(CNQP&KT) - Thực hiện Nghị quyết số 806-NQ/QUTW ngày 31/12/2013 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng (ĐNQP) đến năm 2020 và những năm tiếp theo, công tác hợp tác quốc tế (HTQT) và ĐNQP của Tổng cục CNQP đã được triển khai tích cực và đạt hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ của Tổng cục.

Có thể khẳng định, những năm qua, các cơ quan, đơn vị của Tổng cục CNQP đã chủ động, tích cực trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, các đề án hợp tác quốc phòng - kinh tế, được Thủ trưởng Bộ Quốc phòng đánh giá cao về tính hiệu quả; đồng thời đề xuất phương hướng hợp tác trong lĩnh vực CNQP và triển khai thực hiện tốt các thỏa thuận hợp tác quốc phòng (HTQP) ký kết với nhiều nước. Trong hoạt động hợp tác song phương, đa phương và các ủy ban hỗn hợp, Tổng cục luôn chú trọng đến sự bền vững trong quan hệ hợp tác với các đối tác truyền thống thông qua trao đổi đoàn chuyên viên kỹ thuật, tổ chức tập huấn ngắn hạn cho cán bộ quân sự của các nước bạn, nhờ đó góp phần duy trì, tăng cường quan hệ hữu nghị và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp. 

  Nét nổi bật trong công tác ĐNQP và HTQP là việc hợp tác chuyển giao công nghệ, thương mại quân sự có bước phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc lựa chọn các trang thiết bị và dây chuyền công nghệ hiện đại phục vụ nghiên cứu, sản xuất. Điều này được thể hiện trong việc tham mưu cho Thủ trưởng Tổng cục và các cơ quan, đơn vị về định hướng, tiếp cận, lựa chọn đối tác nước ngoài để giới thiệu sản phẩm, chuyển giao công nghệ các dự án đầu tư, cung cấp thiết bị và hợp tác kinh doanh. Bên cạnh đó, tổ chức cho nhiều đối tác nước ngoài vào tham gia hội thảo, giới thiệu thiết bị, công nghệ và năng lực sản xuất phục vụ các chương trình phát triển CNQP và kinh tế; tổ chức các đoàn công tác đi khảo sát ở nước ngoài để tìm hiểu, lựa chọn đối tác chuyển giao công nghệ cho các dự án chuẩn bị đầu tư; chủ động, tích cực hợp tác chặt chẽ với các đối tác nước ngoài trong triển khai các dự án trọng điểm và các dự án có yếu tố nhận chuyển giao công nghệ của nước ngoài phục vụ phát triển CNQP... Thông qua các hoạt động chuyển giao công nghệ, Tổng cục đã tiếp nhận thành công nhiều công nghệ sản xuất hiện đại của nước ngoài, từng bước tự chủ sản xuất được một số vũ khí, trang bị kỹ thuật; làm chủ một số công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực mũi nhọn, như: Sản xuất vũ khí bộ binh thế hệ mới, sản xuất thuốc nổ mạnh, chế tạo khí tài quan sát và ngắm bắn thế hệ mới, đóng tàu quân sự hiện đại...

Là một trong những hoạt động của công tác ĐNQP và HTQP, hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) của Tổng cục CNQP tiếp tục được thực hiện hiệu quả, đặc biệt là sau khi Đề án Tăng cường xúc tiến thương mại đến năm 2020 được Chủ nhiệm Tổng cục CNQP phê duyệt. Các cơ quan, đơn vị trong Tổng cục đã thống nhất quan điểm, có sự chuyển biến rõ rệt trong tư duy, xác định rõ tầm quan trọng của hoạt động XTTM để từ đó tổ chức triển khai thực hiện theo hướng đồng bộ, tập trung; chủ động phối hợp với những đơn vị thực hiện nghiệp vụ XTTM để mở rộng tìm kiếm khách hàng và thị trường tiêu thụ sản phẩm do CNQP sản xuất; nghiên cứu nắm bắt thị trường quốc tế và các đối tác nước ngoài; tổ chức tốt các hội thảo CNQP chuyên ngành và tổ chức đoàn tham dự các sự kiện XTTM trong lĩnh vực CNQP và kinh tế đối ngoại. Cơ quan chức năng thực hiện công tác ĐNQP và HTQP của Tổng cục đã hướng dẫn các đơn vị trong Tổng cục về nghiệp vụ kinh tế đối ngoại; thực hiện tốt chức năng tư vấn, hỗ trợ có hiệu quả cho các đơn vị tham gia các chương trình XTTM của Nhà nước và Bộ Quốc phòng nhằm mở rộng thị trường trong khu vực và trên thế giới; chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá hình ảnh về CNQP Việt Nam.

Thời gian qua, Tổng cục cũng thực hiện tốt công tác an ninh đối ngoại. Công tác an ninh chính trị nội bộ trong Tổng cục được chấp hành theo đúng các quy định về quản lý và đảm bảo bí mật thương mại quân sự, không để xảy ra các vụ việc mất an ninh - an toàn. Việc xây dựng kế hoạch ĐNQP hàng năm được thực hiện đảm bảo đúng quy trình, quy định. Tổng cục luôn phối hợp tốt với các cơ quan chức năng trong và ngoài Quân đội giải quyết thủ tục cho các đoàn khách nước ngoài vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc Tổng cục đảm bảo đúng quy định, nhanh chóng và thuận lợi; tổ chức cho các đoàn của Tổng cục đi nước ngoài thăm quan, khảo sát, học tập, triển lãm... Vấn đề thẩm định nhân sự các đoàn nước ngoài đến thăm, làm việc với cơ quan, đơn vị của Tổng cục và các đoàn đi công tác nước ngoài được làm chặt chẽ, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Tổng cục cũng thường xuyên hướng dẫn và hỗ trợ tích cực cho đơn vị trong việc giải quyết thủ tục xin cấp hộ chiếu công vụ, công hàm cho các đoàn ra và chỉ đạo tốt việc quản lý lao động của Tổng cục tại nước ngoài.

Toàn cảnh diễn đàn Công nghiệp quốc phòng Việt Nam – Ixraen (tháng 32017).                    Ảnh TRẦN LÊ

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác HTQT và ĐNQP của Tổng cục CNQP vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, đó là:

Thứ nhất, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa được đồng bộ, chặt chẽ nên chưa phát huy hết năng lực trong công tác tham mưu đối ngoại; chưa xây dựng được chiến lược tổng thể, dài hạn trong hội nhập quốc tế về CNQP; nhiều đơn vị triển khai công tác HTQT và ĐNQP còn mang tính cục bộ; việc tiếp xúc, tìm hiểu thông tin về nhu cầu của các đối tác trên thế giới còn hạn chế; hiệu quả một số đoàn đi công tác nước ngoài còn chưa cao, đặc biệt là các đoàn đi thăm quan, tham dự hội chợ, triển lãm...

Thứ hai, hiệu quả nhận chuyển giao công nghệ còn chưa cao, trình độ công nghệ mới ở mức trung bình so với các nước trên thế giới; một số dây chuyền nhận chuyển giao công nghệ còn chưa đồng bộ, chưa đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu phát triển, ứng dụng cũng như hình thành một số lĩnh vực CNQP trọng điểm, mũi nhọn.

Thứ ba, công tác thương mại quân sự phần lớn là việc nhập khẩu dây chuyền công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật; công tác xuất khẩu sản phẩm do CNQP sản xuất còn hạn chế; năng lực cạnh tranh, giá thành, năng lực sản xuất của các đơn vị còn khiêm tốn; nguyên liệu, bán thành phẩm phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài; công tác liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài trong sản xuất, kinh doanh chưa phát triển.

Những tồn tại nêu trên là do HTQT và ĐNQP (trong lĩnh vực CNQP) là lĩnh vực thường đi sau các lĩnh vực khác và phụ thuộc vào mức độ quan hệ chính trị, kinh tế của các đối tác. Thực tế khi triển khai hợp tác trong lĩnh vực CNQP với các đối tác, do có những khác biệt về luật pháp trong chuyển giao công nghệ quốc phòng, cấp độ quan hệ chính trị, quốc phòng song phương và đa phương, sự khác biệt về vấn đề tiêu chuẩn kỹ thuật quân sự đã gây khó khăn cho việc chuyển giao công nghệ quốc phòng. Bên cạnh đó, nhận thức của lãnh đạo, chỉ huy một số đơn vị về hội nhập quốc tế và ĐNQP còn chưa đầy đủ, nhạy bén, kịp thời. Trình độ, năng lực của một bộ phận làm công tác ĐNQP còn hạn chế, nhất là về ngoại ngữ, kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm đàm phán. Cán bộ làm công tác đối ngoại quân sự ở các đơn vị còn kiêm nhiệm, không được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ nên gặp nhiều khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ và tham mưu cho lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Năng lực đội ngũ cán bộ trong tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các đối tác nước ngoài còn hạn chế (đội ngũ chuyên gia đầu ngành khoa học-công nghệ còn thiếu, mỏng, trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu nhận chuyển giao công nghệ trong những dự án trọng điểm).

Về mặt chủ quan có thể thấy, nguồn lực đầu tư cho phát triển CNQP còn hạn chế do những khó khăn chung của nền kinh tế đất nước, cũng như khuôn khổ pháp lý trong nước cho việc tận dụng các nguồn vốn, nguồn lực khác nhau. Về phía các đơn vị, năng lực cạnh tranh còn thấp, từ chất lượng, giá thành sản phẩm đến dịch vụ hậu mãi và XTTM; hầu hết các đơn vị chưa có kinh nghiệm xuất khẩu, cá biệt có đơn vị chưa mạnh dạn tìm hiểu nhu cầu của các đối tác nước ngoài để xuất khẩu.

Trước xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiệm vụ đối với công tác HTQT và ĐNQP của Tổng cục CNQP thời gian tới đặt ra nhiều thời cơ và thách thức mới. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ cần có sự phối hợp chặt chẽ từ cơ quan đến các đơn vị trong Tổng cục và phải quyết tâm triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó trọng tâm là một số giải pháp sau đây:

Một là, lãnh đạo tổ chức tốt việc triển khai Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và ĐNQP; xây dựng chiến lược HTQT và ĐNQP trong lĩnh vực CNQP, tạo bước đột phá về nhận thức và hành động trong toàn Tổng cục; nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa các cơ quan chức năng của Nhà nước và của Bộ Quốc phòng trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, cũng như các nhiệm vụ cụ thể liên quan đến công tác HTQT về CNQP.

Hai là, mở rộng, đa dạng hóa các mối quan hệ hợp tác, các cơ chế liên doanh, liên kết để thu hút các nguồn lực mới từ bên ngoài phục vụ xây dựng và phát triển CNQP. Mạnh dạn thí điểm một số mô hình, phương thức mới trong hợp tác CNQP với các đối tác chiến lược, với các nước trong khu vực và một số tập đoàn xuyên quốc gia.

Ba là, đẩy mạnh xuất khẩu hàng kinh tế, hàng lưỡng dụng và vũ khí trang bị do CNQP sản xuất. Các cơ quan, đơn vị xác định rõ đây là khâu đột phá, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đa dạng hóa, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh.

Bốn là, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện tốt các định hướng, nội dung, giải pháp trong Đề án Tăng cường xúc tiến thương mại đến năm 2020 của Tổng cục. Tạo môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp CNQP tích cực, chủ động phát triển thị trường, bảo đảm mục tiêu kết hợp quốc phòng và kinh tế trong xu hướng hội nhập quốc tế. Các doanh nghiệp cần chủ động tạo sức cạnh tranh về giá thành, chất lượng sản phẩm, dịch vụ hậu mãi và chiến lược XTTM. Kết nối doanh nghiệp CNQP với công nghiệp quốc gia trong hội nhập quốc tế và tham gia các chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu trong các lĩnh vực chế tạo cũng như xuất khẩu sản phẩm.

Năm là, đẩy mạnh củng cố, kiện toàn biên chế, tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ quan và đơn vị trong Tổng cục đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và ĐNQP để thực sự trở thành lực lượng đóng vai trò sáng tạo, kiến tạo cho chiến lược HTQT và ĐNQP trong lĩnh vực CNQP.

Sáu là, tăng cường công tác nghiên cứu - triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là trong tiếp nhận chuyển giao các dây chuyền công nghệ của các dự án đầu tư có yếu tố nước ngoài với mục tiêu đầu tư đồng bộ, công nghệ hiện đại; lựa chọn đối tác phù hợp, tránh lãng phí; gắn chặt hơn nữa quá trình nghiên cứu, chế thử - sản xuất - sử dụng.

Bảy là, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu móc nối, cài cắm, hoạt động gián điệp, tình báo trong hoạt động ĐNQP.

Thiếu tướng, PGS, TS Đoàn Hùng Minh

Phó Chủ nhiệm Tổng cục CNQP

Bình luận


Họ và tên:*

Đơn vị:     

Điện thoại:*               

Email:*                       

Nội dung: