(CNQP&KT) - Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ (KHCN) là quốc sách hàng đầu; là một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ Tổ quốc. KHCN là nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp.

Đối với ngành Công nghiệp quốc phòng (CNQP), công tác KHCN luôn phải bám sát thực tiễn hoạt động quân sự, quốc phòng, lấy việc phục vụ nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là mục tiêu hàng đầu. Do vậy, việc thực hiện tốt Nghị quyết số 791-NQ/QUTW ngày 30/12/2012 của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo công tác khoa học, công nghệ và môi trường trong Quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo (gọi tắt là Nghị quyết 791) có vai trò quan trọng, góp phần giúp ngành CNQP đạt được mục tiêu đã đề ra.

Ngay sau khi Nghị quyết 791 được ban hành, Đảng ủy Tổng cục CNQP tổ chức quán triệt, triển khai sâu rộng trong toàn Tổng cục; đã xây dựng Kế hoạch số 445-KH/ĐU ngày 31/5/2013 triển khai thực hiện Nghị quyết, trong đó xác định rõ 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm: Tổ chức tuyên truyền, phổ biến thực hiện Nghị quyết; rà soát, bổ sung hoàn chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý công tác nghiên cứu KHCN ngành CNQP; xây dựng và huy động tiềm lực nghiên cứu KHCN trong và ngoài Quân đội phục vụ xây dựng, phát triển CNQP; xây dựng, tổ chức triển khai các đề án KHCN để tập trung nguồn lực nghiên cứu thiết kế chế tạo vũ khí mới; tổ chức triển khai, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả các đề tài KHCN; quản lý thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường (BVMT).

Căn cứ Kế hoạch số 445, Thường vụ Đảng ủy, chỉ huy Tổng cục CNQP đã lãnh đạo cấp ủy trực thuộc xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Tổng cục xác định rõ vị trí, vai trò của công tác KHCN, coi đây là một mặt công tác quan trọng của cơ quan, đơn vị, nhất là đối với các viện nghiên cứu, các nhà máy trong Tổng cục trực tiếp nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sản xuất các sản phẩm vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) mới, nâng cao chất lượng và bảo đảm an toàn trong sản xuất. Có thể khẳng định, qua 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 791, Đảng ủy Tổng cục CNQP đã lãnh đạo thực hiện toàn diện 11 nhiệm vụ và 7 giải pháp chủ yếu nêu trong Nghị quyết 791, trong đó tập trung vào 6 nhiệm vụ và 6 giải pháp cụ thể được xác định trong Kế hoạch số 445. Trước hết, Đảng ủy Tổng cục giao cho Cục Chính trị chủ trì, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết, qua đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, các tổ chức quần chúng, cán bộ, đảng viên, công nhân viên trong việc thực hiện công tác KHCN và môi trường trong Tổng cục; nhận thức rõ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của công tác KHCN và môi trường trong sự nghiệp xây dựng, phát triển CNQP. Đảng ủy Tổng cục cũng lãnh đạo nâng cao nhận thức, hiệu quả của công tác xây dựng và huy động tiềm lực KHCN trong và ngoài Quân đội phục vụ xây dựng, phát triển CNQP. Theo đó, các cơ sở nghiên cứu KHCN của Tổng cục được đầu tư củng cố hoàn thiện hơn. 5 năm qua, đã thực hiện đầu tư xây dựng Viện Thiết kế tàu quân sự, hiện đại hóa Viện Vũ khí, xây dựng cơ sở sản xuất thử nghiệm của Viện Thuốc phóng - Thuốc nổ; củng cố và duy trì tiềm lực 20 phòng thí nghiệm của các viện nghiên cứu và các nhà máy. Cùng với cơ sở vật chất, Đảng ủy, chỉ huy Tổng cục cũng đặc biệt quan tâm công tác xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu KHCN. 5 năm qua đã bổ sung 175 cán bộ cho 4 viện nghiên cứu; cử gần 300 cán bộ đi đào tạo trình độ sau đại học; tổ chức tập huấn nghiệp vụ KHCN và môi trường cho 280 đồng chí; công nhận chức danh sĩ quan chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ các ngạch khởi đầu, ngạch chính và cao cấp cho hơn 1.300 đồng chí… Bên cạnh đó, công tác sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được lãnh đạo, phát huy và đẩy mạnh thành phong trào thường xuyên, rộng khắp, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Giai đoạn 2013-2017, các đơn vị trực thuộc Tổng cục được trao tặng 17 Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam (VIFOTEC), 3 Bằng khen cấp Bộ Quốc phòng và 87 giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội.


 

Cán bộ, kỹ sư Viện Vũ khí trao đổi phương pháp thiết kế chế tạo các sản phẩm quốc phòng.         Ảnh: Tuấn Minh

 Nét nổi bật trong thực hiện công tác KHCN của Tổng cục CNQP những năm qua đó là, tổ chức thực hiện đạt kết quả thiết thực một số đề án KHCN lớn và nâng cao hiệu quả các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu KHCN. Đảng ủy, chỉ huy Tổng cục xác định, việc xây dựng và triển khai thực hiện các đề án KHCN là nội dung có tính chiến lược để huy động tiềm lực của Nhà nước, Bộ Quốc phòng phục vụ cho công tác nghiên cứu chế tạo vũ khí mới. Do vậy, đề án thuộc Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia và một số đề án KHCN cấp Bộ Quốc phòng đều cơ bản hoàn thành đúng tiến độ, đạt chất lượng tốt và đã có sản phẩm nghiên cứu chế thử thành công, được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ sản xuất loạt “0”. Đối với các đề tài, nhiệm vụ KHCN, Đảng ủy, chỉ huy Tổng cục thống nhất quan điểm: Chỉ triển khai các đề tài khi có nhu cầu áp dụng vào thực tế, đáp ứng được nhu cầu trang bị của lực lượng vũ trang và phải tập trung vào các mục tiêu trọng tâm, như: Khắc phục tồn tại, nâng cao chất lượng sản phẩm; nghiên cứu thiết kế, chế tạo vũ khí mới, tự chủ vật tư kỹ thuật trong nước phục vụ sản xuất sản phẩm quốc phòng và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất… Kết quả, 5 năm qua, Tổng cục đã triển khai thực hiện 343 đề tài, nhiệm vụ KHCN các cấp, trong đó có 208 đề tài, nhiệm vụ được ứng dụng vào thực tế. Từ kết quả nghiên cứu KHCN đã có 66 sản phẩm được đưa vào sản xuất loạt “0”. Trong những năm gần đây, có 82% sản phẩm do CNQP sản xuất, sửa chữa cung cấp cho Quân đội là kết quả của các đề tài nghiên cứu KHCN. Đặc biệt, các đề tài nghiên cứu KHCN đã đóng góp quan trọng vào việc khắc phục tồn tại, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm sự tin tưởng của bộ đội vào sản phẩm do CNQP Việt Nam sản xuất. Đến nay, ngành CNQP đã sản xuất được thuốc phóng, thuốc nổ; hợp kim đồng, nhôm cho sản xuất đạn dược, thời gian tới sẽ sản xuất được thép làm nòng và các bộ phận quan trọng của súng bộ binh và súng chống tăng...

 Tuy nhiên, trong thực hiện Nghị quyết 791, Đảng ủy Tổng cục cũng nhận thức rõ vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, như: Việc nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số loại vũ khí mới tuy đã đạt được những kết quả nhất định nhưng mức độ tiến tiến của sản phẩm còn hạn chế: số lượng vũ khí mới được nghiên cứu chế tạo có hàm lượng KHCN cao, vũ khí thế hệ mới còn ít; việc huy động quỹ phát triển KHCN của doanh nghiệp để thực hiện các đề tài, nhiệm vụ KHCN còn hạn chế… Trên cơ sở đó, Đảng ủy Tổng cục CNQP đã rút ra một số bài học kinh nghiệm trong công tác KHCN và môi trường đó là: Phải quán triệt sâu sắc và xác định đúng ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác KHCN và môi trường; gắn công tác KHCN và môi trường, đặc biệt là công tác nghiên cứu chế thử vũ khí mới, với nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về công tác bảo đảm trang bị. Quan tâm xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án KHCN để bảo đảm định hướng đúng cho công tác nghiên cứu chế thử vũ khí mới và huy động được tiềm lực của các đơn vị trong, ngoài Quân đội và hợp tác quốc tế để thực hiện, bảo đảm hiệu quả cao. Tăng cường công tác quản lý các đề tài, nhiệm vụ KHCN; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và nâng cao hiệu quả nghiên cứu chế thử. Bên cạnh đó, có cơ chế động viên, khuyến khích các cán bộ làm công tác nghiên cứu KHCN, nhất là cán bộ trẻ để tạo động lực cho hoạt động KHCN. Duy trì thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

  Phát huy kết quả đạt được trong 5 năm qua và khắc phục các tồn tại, hạn chế để đến năm 2020 tạo sự chuyển biến quan trọng về công tác KHCN và môi trường, Đảng ủy Tổng cục CNQP xác định tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 791 với những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy và quản lý điều hành của người chỉ huy đối với công tác KHCN và môi trường; vận dụng các mục tiêu, chủ trương, giải pháp nêu trong Nghị quyết 791 phù hợp với điều kiện thực tiễn của Tổng cục và từng đơn vị.

Hai là, nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu trang bị của Quân đội để đề xuất xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án KHCN, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu, chế thử VKTBKT mới; đồng thời tăng cường công tác KHCN cho nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất kinh tế và đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm quốc phòng. Tăng cường hợp tác quốc tế về KHCN, nhất là trong nghiên cứu phát triển vũ khí mới và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất.

Ba là, tăng cường đầu tư xây dựng và phát triển tiềm lực KHCN, trong đó tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác KHCN; khuyến khích, động viên, đẩy mạnh phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tập trung vào các sáng kiến, sáng chế ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; về nâng cao năng suất, chất lượng và bảo đảm an toàn trong sản xuất.

Bốn là, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; tổ chức rà soát, đánh giá lại các hệ thống xử lý nước thải, khí thải và đề xuất các giải pháp khắc phục tồn tại; phối hợp với địa phương làm tốt công tác bảo vệ môi trường khu vực đơn vị đóng quân.

Với những giải pháp đồng bộ, thiết thực, đặc biệt là sự quyết tâm của cấp ủy đảng, người chỉ huy và cán bộ, công nhân viên, người lao động trong toàn Tổng cục, tin tưởng rằng, trong những năm tới, việc thực hiện Nghị quyết 791 ở Tổng cục CNQP sẽ tiếp tục đạt được những kết quả nổi bật hơn nữa, qua đó nâng cao tiềm lực nghiên cứu khoa học, công nghệ, góp phần xây dựng, phát triển ngành CNQP Việt Nam ngày càng vững mạnh.

                                                                                                                     Trung tướng, TS.KHUẤT VIỆT DŨNG

Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Tổng cục CNQP

 

Bình luận


Họ và tên:*

Đơn vị:     

Điện thoại:*               

Email:*                       

Nội dung: