Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng trong doanh nghiệp quân đội

9/2/2026 4:36:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 82

CNQP&KT - Hiện nay, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đặt ra ngày càng cấp thiết, đòi hỏi phát huy nội lực của toàn dân tộc. Trong bối cảnh đó, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng là nguyên tắc mang tính định hướng, xuyên suốt. Đặc biệt, việc nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tại các doanh nghiệp quân đội giữ vai trò then chốt, là mắt xích chuyển hóa lý luận thành thực tiễn, góp phần phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

          Hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng là một chỉnh thể lý luận khoa học, phản ánh sâu sắc quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam, được thể hiện ở các nội dung cốt lõi sau:

Thứ nhất, kinh tế và quốc phòng là hai lĩnh vực gắn bó hữu cơ, cùng cấu thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Xác định điều kiện vật chất có ý nghĩa quyết định đối với mọi nhiệm vụ cách mạng, Người luôn đôn đốc yêu cầu chăm lo dân sinh, "phải làm cho nhân dân ta ngày càng thêm ấm no"1. Theo đó, khi đời sống nhân dân còn khó khăn và tiềm lực kinh tế hạn chế thì nền tảng quốc phòng cũng khó được củng cố vững chắc và ngược lại, nếu mất ổn định an ninh - trật tự, bị xâm phạm chủ quyền thì thành quả kinh tế cũng khó giữ được. Do đó, kết hợp củng cố quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế là tất yếu khách quan.

Thứ hai, kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng trong một chiến lược tổng thể và có sự chuẩn bị chu đáo ngay từ thời bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu, nước mạnh"2. Khái niệm "nước mạnh" ở đây không chỉ dừng lại ở sự thịnh vượng kinh tế, mà phải là một quốc gia vững vàng về tiềm lực tổng hợp, trong đó có quốc phòng và an ninh. Vì thế, việc kết hợp phải tính ngay từ khâu chủ trương, kế hoạch và tổ chức thực hiện, hình thành tiềm lực, thế trận, khả năng phòng thủ và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Thứ ba, đặc biệt coi trọng yếu tố con người. Tư tưởng kết hợp kinh tế với quốc phòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với yêu cầu xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Khi lòng dân yên, niềm tin được củng cố, đời sống được cải thiện thì nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mới có nền tảng xã hội bền vững. Người yêu cầu: "Mọi người đều có trách nhiệm làm cho dân giàu nước mạnh, quốc phòng vững mạnh"3. Phát triển kinh tế - xã hội theo hướng nâng cao đời sống, bảo đảm an sinh, phát triển văn hóa - giáo dục, giảm bất bình đẳng, chăm lo vùng khó khăn… để tạo sự ổn định lâu dài, tăng sức "đề kháng xã hội" trước các nguy cơ và thách thức, qua đó làm sâu gốc rễ của nền quốc phòng, an ninh.

Thứ tư, xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn dân phải dựa trên thực lực kinh tế và sự phát triển của công nghiệp, khoa học - kỹ thuật quốc gia. Một nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ không chỉ đóng góp vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà còn là cơ sở vật chất kỹ thuật trang bị cho lực lượng vũ trang. Để việc kết hợp đạt hiệu quả cao nhất, Người đề ra nguyên tắc phải tiến hành có tổ chức, có kỷ luật chặt chẽ dưới sự lãnh đạo thống nhất, đồng thời: "Toàn thể nhân dân cũng phải nâng cao cảnh giác và giúp sức vào việc giữ gìn trật tự, an ninh"4, từ đó tạo ra môi trường hòa bình, ổn định làm nền tảng cho sự phát triển vững chắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tham quan khu trưng bày sản phẩm do ngành Quân nhu Quân đội sản xuất tại Triển lãm "Sáng kiến cải tiến kỹ thuật" (tháng 4/1959).  Ảnh: TL 

Đối với các doanh nghiệp quân đội (DNQĐ), tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng là lý luận có giá trị định hướng sâu sắc, giúp Đảng ta "hình thành nhận thức lý luận mới đầy đủ hơn về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới"5. DNQĐ đóng vai trò là lực lượng tiên phong làm chủ các công nghệ hiện đại và trụ vững tại các địa bàn chiến lược. Trên thực tiễn, việc lồng ghép các nhiệm vụ quốc phòng vào sản xuất, kinh doanh đã chứng minh tính đúng đắn khi "tiềm lực, lực lượng và thế trận quốc phòng, an ninh được tăng cường, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc"6. Trong kỷ nguyên mới, giá trị này càng được nâng tầm khi các DNQĐ trở thành lực lượng dẫn dắt tiếp thu công nghệ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước. Để nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ DNQĐ trong việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng, cần tập trung triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

Một là, tăng cường quán triệt, tuyên truyền, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị, làm cho mỗi cán bộ DNQĐ phải nhận thức rõ nguyên tắc "Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại"7, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu lên trên hết.

Hai là, phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quyết tâm tự chủ công nghệ cốt lõi. Sức mạnh quốc phòng trong kỷ nguyên mới được đo bằng trình độ công nghệ cao và năng lực làm chủ tri thức số. Do đó, để DNQĐ thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt tiếp thu công nghệ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đội ngũ cán bộ DNQĐ, nhất là cán bộ lãnh đạo phải có tư duy đột phá, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; tích cực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Ba là, nâng cao trách nhiệm của cán bộ trong quy hoạch, đầu tư và phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - quốc phòng lưỡng dụng trên các không gian chiến lược. Đội ngũ cán bộ chủ chốt tại các tổng công ty, tập đoàn quân đội phải thể hiện tầm nhìn chiến lược khi tham gia xây dựng các dự án hạ tầng quốc gia. Đảm bảo nghiêm ngặt tiêu chuẩn lưỡng dụng: thời bình phục vụ giao thương, phát triển kinh tế nhanh chóng, nhưng khi có tình huống động viên quốc phòng phải ngay lập tức chuyển trạng thái thành mạch máu giao thông quân sự và hệ thống thông tin chỉ huy thông suốt. Người cán bộ phải chịu trách nhiệm bảo đảm mỗi dự án kinh tế tại các vùng biên cương, biển, đảo vừa tạo ra giá trị của cải vật chất, vừa là "mắt xích" kiên cố trong thế trận phòng thủ toàn dân.

Bốn là, chủ động củng cố "thế trận lòng dân" vững chắc tại các địa bàn đóng quân và triển khai dự án. Gắn liền hoạt động sản xuất, kinh doanh với sự phát triển bao trùm và bền vững của cộng đồng. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương để tạo sinh kế ổn định cho người dân, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Xây dựng mối quan hệ máu thịt quân - dân, bảo đảm an sinh xã hội chính là giải pháp căn cơ để đập tan mọi âm mưu chia rẽ, biến sự đồng thuận của lòng dân thành bức tường thành bất khả xâm phạm bảo vệ chế độ.

Năm là, nâng cao năng lực quản trị hiện đại, bảo đảm an ninh kinh tế và giữ vững tính thượng tôn pháp luật trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong một nền kinh tế mở, DNQĐ thường xuyên phải giao thương, liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài. Điều này đặt ra yêu cầu người cán bộ DNQĐ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững luật pháp quốc tế và tư duy quản trị rủi ro nhạy bén. Đồng thời chủ động nhận diện, ngăn ngừa các nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, thâu tóm doanh nghiệp hoặc rò rỉ dữ liệu mật của quốc gia...

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng là định hướng cho quân đội ta thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Do đó, đội ngũ cán bộ các DNQĐ cần không ngừng phát huy trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, tích cực làm chủ khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực quản trị hiện đại; góp phần xây dựng DNQĐ vững mạnh, đưa đất nước phát triển phồn vinh trong kỷ nguyên mới.

Thượng tá, TS. BÙI VĂN MẠNH

Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1-4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 13, tr. 163, 212, 264, 223.

5-7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 207, 208, 269.

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại