Huy động nguồn lực doanh nghiệp ngoài quân đội tham gia phát triển công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng

4/8/2026 8:00:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 177

CNQP&KT - Huy động doanh nghiệp ngoài Quân đội tham gia phát triển công nghiệp quốc phòng (CNQP) lưỡng dụng trở thành yêu cầu tất yếu trong điều kiện ngân sách nhà nước và nguồn lực của doanh nghiệp CNQP còn hạn hẹp. Huy động vốn đầu tư, phát huy lợi thế về công nghệ, nguồn nhân lực, năng lực quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị sản xuất trong nước, quốc tế sẽ góp phần quan trọng nâng cao tính lưỡng dụng và khả năng tự chủ của CNQP.

TÍNH TẤT YẾU HUY ĐỘNG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUÂN ĐỘI THAM GIA CNQP LƯỠNG DỤNG

Huy động doanh nghiệp ngoài Quân đội tham gia phát triển CNQP lưỡng dụng là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi mô hình CNQP từ tập trung, khép kín sang mô hình mở, tích hợp trong hệ sinh thái công nghiệp quốc gia, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tính tất yếu này phản ánh xu hướng vận động của CNQP theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển CNQP lưỡng dụng. Mở rộng huy động các nguồn lực ngoài ngân sách là tất yếu trong bối cảnh đầu tư từ ngân sách nhà nước còn hạn chế, trong khi nhu cầu cho nghiên cứu, phát triển, sản xuất và hiện đại hóa CNQP ngày càng gia tăng, mang tính dài hạn và đòi hỏi trình độ khoa học, công nghệ (KHCN) cao. Doanh nghiệp ngoài Quân đội, với khả năng huy động vốn linh hoạt, năng lực đầu tư đa dạng, khả năng tiếp cận công nghệ mới và kinh nghiệm tổ chức sản xuất theo cơ chế thị trường, có điều kiện bổ sung các nguồn lực về tài chính, công nghệ, nhân lực và quản trị sẽ giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội.

Thứ hai, xuất phát từ chủ trương, định hướng của Đảng thông qua Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về "Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia", xác định KHCN và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt cho phát triển nhanh và bền vững đất nước; đồng thời nhấn mạnh doanh nghiệp là chủ thể, nguồn lực và động lực quan trọng của quá trình đổi mới sáng tạo. Trên tinh thần đó, việc huy động doanh nghiệp ngoài Quân đội tham gia nghiên cứu, phát triển và ứng dụng KHCN phục vụ CNQP lưỡng dụng nhằm phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp, nâng cao năng lực KHCN quốc gia và tăng cường tiềm lực quốc phòng trong giai đoạn mới.

Dây chuyền sản xuất, lắp ráp ô tô của Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải.      Ảnh: CTV

Thứ ba, xuất phát từ vai trò ngày càng quan trọng của doanh nghiệp ngoài Quân đội trong phát triển CNQP lưỡng dụng. Thực tiễn cho thấy, doanh nghiệp ngoài Quân đội ngày càng tham gia có hiệu quả vào các khâu đầu tư vốn, cung ứng hạ tầng sản xuất, ứng dụng công nghệ lưỡng dụng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao hiệu quả quản trị và tổ chức sản xuất. Những lợi thế này khẳng định vai trò của khu vực này trong mô hình phát triển CNQP lưỡng dụng.

Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu phát triển CNQP theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Phát triển CNQP phải đặt trong tổng thể hệ sinh thái công nghiệp quốc gia, gắn với KHCN tiên tiến và các chuỗi giá trị sản xuất đa dạng. Trong mô hình đó, sự tham gia của doanh nghiệp ngoài Quân đội với lợi thế về đổi mới công nghệ, quản trị theo cơ chế thị trường và khả năng tham gia chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế là điều kiện quan trọng thúc đẩy quá trình hiện đại hóa CNQP lưỡng dụng, nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền công nghiệp quốc gia.

Thứ năm, xuất phát từ yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội trong điều kiện thời bình. Phát triển CNQP lưỡng dụng cho phép các cơ sở sản xuất, dây chuyền công nghệ và nguồn nhân lực vừa phục vụ nhu cầu dân sinh, vừa sẵn sàng chuyển sang phục vụ nhiệm vụ quốc phòng khi có yêu cầu. Qua đó góp phần khai thác hiệu quả công suất sản xuất, giảm chi phí duy trì năng lực dự phòng và nâng cao hiệu quả đầu tư của toàn xã hội; chuẩn bị nguồn nhân lực cần thiết khi mở rộng quy mô sản xuất, nhất là trong giai đoạn đầu khi chiến tranh xảy ra.

Thứ sáu, xuất phát từ xu thế phát triển CNQP trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trên thế giới, việc phát triển CNQP lưỡng dụng và huy động khu vực doanh nghiệp dân sự tham gia chuỗi giá trị quốc phòng đã trở thành xu hướng phổ biến. Do vậy, huy động doanh nghiệp ngoài Quân đội tham gia phát triển CNQP lưỡng dụng phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, tăng cường sức cạnh tranh và khả năng thích ứng của nền công nghiệp quốc gia trước những biến động của môi trường an ninh quốc tế.

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC THAM GIA CNQP LƯỠNG DỤNG

Để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp ngoài Quân đội tham gia phát triển CNQP lưỡng dụng, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, hoàn thiện thể chế, tạo khung khổ pháp lý phù hợp, sát thực tế, đủ sức hấp dẫn để thu hút sự tham gia của doanh nghiệp ngoài Quân đội. Đây là giải pháp nền tảng nhằm tạo lập môi trường pháp lý ổn định, minh bạch. Trọng tâm là chuyển hóa các quy định khung thành cơ chế, chính sách cụ thể, khả thi. Xây dựng các gói chính sách ưu đãi đặc thù, tập trung vào thuế suất ưu đãi cho lợi nhuận tái đầu tư vào dự án lưỡng dụng; cơ chế bảo lãnh tín dụng Nhà nước cho các dự án công nghệ cao có rủi ro ban đầu. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, đặc biệt là sở hữu, khai thác và chuyển giao tài sản trí tuệ phát sinh từ quá trình hợp tác. Với khung pháp lý toàn diện và minh bạch, tiềm năng hợp tác sẽ được chuyển hóa thành dòng đầu tư thực tế từ khu vực doanh nghiệp ngoài Quân đội trong tham gia phát triển CNQP lưỡng dụng.

Tổng cục CNQP ký kết thỏa thuận hợp tác với Công ty cổ phần Tập đoàn MK (tháng 12/2025).      Ảnh: TUẤN MINH

Hai là, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn và năng lực đầu tư của doanh nghiệp ngoài Quân đội. Đây là giải pháp then chốt để chuyển hóa tiềm năng tài chính và kinh nghiệm thị trường của khu vực này thành nguồn lực thực chất cho CNQP lưỡng dụng. Trọng tâm là xây dựng các kênh dẫn vốn đa dạng, sáng tạo và các mô hình đầu tư hấp dẫn, phù hợp cơ chế thị trường. Ưu tiên phát triển mô hình hợp tác công - tư (PPP) linh hoạt cho các dự án hạ tầng kỹ thuật và trung tâm nghiên cứu ứng dụng, nơi Nhà nước đảm nhận vai trò định hướng, đặt hàng và chia sẻ rủi ro, còn doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nước được chủ động về vốn, công nghệ và vận hành theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, khuyến khích hình thành các công cụ tài chính chuyên biệt cho phát triển công nghệ lưỡng dụng; trong đó, Bộ Quốc phòng giữ vai trò kiến tạo, ban hành và tổ chức thực hiện các quy định, điều kiện cần thiết để doanh nghiệp CNQP vừa phải bảo toàn, phát triển vốn nhà nước vừa tham gia liên kết với doanh nghiệp ngoài Quân đội hình thành và vận hành quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ lưỡng dụng. Phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế để doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu cho các dự án lưỡng dụng trọng điểm, gắn với các hình thức hỗ trợ phù hợp của Nhà nước, bảo đảm tính đồng bộ với các chính sách hỗ trợ tín dụng sau đấu thầu.

Ba là, đổi mới phương thức hợp tác, hướng tới xây dựng hệ sinh thái liên kết chiến lược giữa doanh nghiệp CNQP và doanh nghiệp ngoài Quân đội. Đây là giải pháp cốt lõi để chuyển dịch từ quan hệ mua - bán, đặt hàng đơn lẻ sang liên kết, hợp tác cùng chia sẻ rủi ro, đầu tư dài hạn và cùng hưởng lợi ích. Để hiện thực hóa, có thể phân công các khâu như doanh nghiệp CNQP (nắm yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn đặc thù) đảm nhận vai trò thiết kế, tích hợp hệ thống và nghiệm thu, còn doanh nghiệp ngoài Quân đội (dây chuyền hiện đại, năng lực sản xuất hàng loạt) tập trung sản xuất các module, linh kiện theo đặt hàng, tối ưu hóa năng lực công nghiệp dân sự. Đối với công nghệ lưỡng dụng nền tảng (vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo, điện tử), thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển liên doanh, cùng đầu tư vốn và chất xám, cùng sở hữu sản phẩm trí tuệ. Các mô hình vận hành dựa trên hợp đồng kinh tế, kỹ thuật chi tiết, minh bạch hóa điều khoản về phân chia lợi nhuận, quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế giải quyết tranh chấp. Thúc đẩy cơ chế chuyển giao công nghệ có kiểm soát hai chiều tạo nên một hệ sinh thái công nghiệp lưỡng dụng linh hoạt, bền vững, bảo đảm an ninh và phát huy tối đa hiệu quả tổng hợp các nguồn lực xã hội.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực và KHCN cho CNQP lưỡng dụng. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định lâu dài đến năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của ngành. Về KHCN, cần tập trung nghiên cứu, phát triển các công nghệ lưỡng dụng then chốt bằng cách thu hút mạnh mẽ doanh nghiệp ngoài Quân đội tham gia. Áp dụng linh hoạt các hình thức như đặt hàng, giao nhiệm vụ, đồng tài trợ cho các đề tài, dự án nghiên cứu chung, đi kèm với các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cụ thể về thuế, tín dụng... Về nguồn nhân lực, cần tăng cường phối hợp ba bên chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo của Quân đội với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp ngoài Quân đội. Trọng tâm là mở các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kết hợp chuyên môn với kiến thức quốc phòng, an ninh, ý thức kỷ luật và bảo mật. Xây dựng cơ chế luân chuyển, trao đổi cán bộ, chuyên gia giữa doanh nghiệp CNQP và doanh nghiệp ngoài Quân đội. Xây dựng, kiến tạo môi trường để hai bên học hỏi kinh nghiệm, tháo gỡ khác biệt và nâng cao hiệu quả phối hợp.

Huy động doanh nghiệp ngoài Quân đội tham gia phát triển CNQP lưỡng dụng là yêu cầu tất yếu và mang tính chiến lược lâu dài trong giai đoạn mới. Sự tham gia này góp phần sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới KHCN, nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của CNQP. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ tạo nền tảng vững chắc cho phát triển CNQP Việt Nam tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại trong giai đoạn mới.

Thiếu tướng, PGS, TS. HOÀNG VĂN PHAI

Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đảng bộ Quân đội, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội Lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 - 2030,  Hà Nội, 2025.

2. ộ Chính trị, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26/01/2022 về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh đến năm 2030 và những năm tiếp theo, Hà Nội, 2022.

3. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong Quân đội, Hà Nội, 2025.

4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp, Hà Nội, 2024.

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại