Xu hướng phát triển phương tiện không người lái và gợi mở cho Việt Nam

11/1/2026 7:19:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 403

CNQP&KT - Những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện không người lái (UAV, USV, UUV...) đã trở thành nhân tố then chốt trong hoạt động tình báo, giám sát, trinh sát (ISR) và tác chiến hiện đại. Từ thực tiễn xung đột tại Ukraine, Trung Đông đến diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các nền tảng tự hành không chỉ làm thay đổi quy luật tác chiến mà còn gợi mở những bài học quan trọng để Việt Nam xây dựng năng lực răn đe phi đối Xứng xứng phù hợp với tiềm lực quốc gia.

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC HỆ THỐNG TỰ HÀNH

Trong thuật ngữ quân sự, UAV (Unmanned Aerial Vehicle) là hệ thống bay điều khiển từ xa hoặc tự động, có thể mang cảm biến hoặc vũ khí. Trong đó, drone thường dùng để chỉ các UAV loại nhỏ, bao gồm cả thiết bị bay 4 cánh quạt (quadcopter) biến thể quân sự hóa. UUV (Unmanned Underwater Vehicle) gồm các thiết bị tự hành hoặc điều khiển qua dây, sử dụng cho mục tiêu chống mìn, chống tàu ngầm, giám sát hạ tầng và trinh sát dưới nước. USV (Unmanned Surface Vehicle - tàu mặt nước không người lái) thường kết hợp với UUV trong mạng cảm biến đa miền. Về phân loại tác chiến, các nền tảng này đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ, gồm: trinh sát, giám sát, phát hiện, đối phó, chỉ thị mục tiêu, tấn công chính xác, drone cảm tử, hậu cần và vận tải. Tùy theo tầm hoạt động và độ phức tạp, chúng được chia thành: drone chiến thuật nhỏ, UAV tầm trung, UAV chiến đấu tầm xa và UUV các cỡ.

 

Một hệ thống UAV của Ukraine.    Ảnh: Internet

 

Xu hướng công nghệ nổi bật của các hệ thống tự hành này là tự động hóa cao và tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để phân loại mục tiêu; độc lập vận hành khi mất GPS nhờ dẫn đường quán tính và bản đồ đáy biển; cấu trúc đa miền, kết nối mạng cảm biến phân tán. Ưu điểm nổi bật là có thể đảm nhiệm đa nhiệm vụ với chi phí vận hành thấp, linh hoạt và khả năng module hóa cao; giảm thiểu rủi ro sinh mạng con người trong môi trường nguy hiểm; tạo áp lực an ninh lớn lên hệ thống phòng thủ của đối phương. Tuy nhiên, các hệ thống này cũng bị hạn chế bởi phụ thuộc vào liên lạc và hệ thống định vị, giới hạn về tải trọng và thời gian hoạt động; thách thức về pháp lý, đạo đức và khả năng vận hành trong môi trường đặc thù. Theo dự báo, riêng thị trường UUV quân sự toàn cầu sẽ đạt khoảng 4,62 tỷ USD năm 2026 và dự kiến đạt 6,23 tỷ USD vào năm 2030.

HIỆU QUẢ THỰC CHIẾN TỪ UKRAINE, TRUNG ĐÔNG VÀ BIỂN ĐÔNG

Chiến trường Ukraine

Cuộc xung đột Ukraine là chiến trường đầu tiên ứng dụng hệ thống không người lái ở quy mô và cường độ chưa từng có. Trên bộ, cả Ukraine và Nga đều sử dụng rộng rãi drone FPV và UAV cảm tử để trinh sát, chỉ thị mục tiêu và tấn công xe thiết giáp, pháo tự hành, trạm chỉ huy, kho hậu cần của đối phương. Lực lượng Ukraine đã tích hợp dữ liệu trinh sát từ drone vào hệ thống chỉ huy - kiểm soát GIS Arta nhằm rút ngắn chu trình OODA (Quan sát - Định hướng - Ra quyết định - Hành động). Đáp lại, Nga tăng cường triển khai các hệ thống tác chiến điện tử như Krasukha, Zhitel, trang bị lưới chống drone cho xe cơ giới và sử dụng UAV cảm tử Lancet.

 

Lộ trình phát triển hệ thống không người lái cho Việt Nam, gồm: thí điểm USV/UUV giám sát biển và UAV tuần tra vùng đặc quyền kinh tế, phát triển hệ thống phòng thủ. Tiếp theo, bổ sung drone cảm tử và UUV rà phá mìn, chuẩn hóa hệ thống chia sẻ dữ liệu liên ngành; hướng tới phát triển UUV cỡ lớn và hoàn thiện các hệ thống đánh chặn chi phí thấp.

 

Trên biển, Ukraine triển khai thành công USV Sea Baby tấn công cảng biển, tàu chiến và hạ tầng ven bờ tại khu vực do Nga kiểm soát, tạo ra rủi ro phi đối xứng đáng kể cho lực lượng hải quân truyền thống của đối phương. Xu hướng công nghệ nổi bật là tích hợp AI để phân loại mục tiêu, tự động hóa tại chỗ, duy trì hoạt động khi mất GPS và áp dụng kiến trúc mở để dễ dàng tích hợp cảm biến, vũ khí mới. Việc các hệ thống phòng không đắt tiền phải đối phó với drone giá rẻ đã thúc đẩy sự xuất hiện của các giải pháp đánh chặn chi phí thấp như laser, vũ khí vi sóng công suất cao (HPM) và đạn dẫn đường bằng laser.

Khu vực Trung Đông

Iran và các lực lượng thân Iran sử dụng rộng rãi drone cảm tử và UAV tầm trung (như Shahed-136, Mohajer-6) tấn công vào hạ tầng năng lượng, sân bay, căn cứ quân sự của các quốc gia Vùng Vịnh là đồng minh của Mỹ. Những đòn tấn công bằng drone kết hợp tên lửa hành trình tuy quy mô không lớn nhưng lại gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, chính trị của Saudi Arabia, UAE, Israel. Để đối phó, các nước Vùng Vịnh và Israel phối hợp với Mỹ, châu Âu xây dựng hệ thống phòng thủ đa tầng (tích hợp Iron Dome, David’s Sling, SkySentry, radar 3D, cảm biến quang - điện tử, laser công suất cao). Tăng cường ứng dụng AI để phát hiện, phân loại và ứng phó tự động, đồng thời sử dụng UAV tầm trung mang vũ khí chính xác để tạo lực lượng răn đe đáp trả.

Khu vực Biển Đông

Cạnh tranh yêu sách chủ quyền trên Biển Đông đang có xu hướng chuyển từ phô diễn lực lượng và duy trì hiện diện quân sự sang "cuộc chiến dữ liệu" và kiểm soát thực địa dựa trên mạng cảm biến không người lái. Trong môi trường này, bên nào duy trì được nhận thức tình huống biển (MDA) liên tục, có khả năng phát hiện sớm, lưu trữ bằng chứng và triển khai lực lượng với chi phí thấp sẽ có lợi thế trong thực thi yêu sách tại các khu vực chồng lấn.

Trung Quốc đầu tư mạnh cho mô hình này bằng việc phát triển, bố trí các trạm giám sát, quan trắc môi trường biển kết hợp radar, AIS và cảm biến hải dương học; kết nối các hệ thống UAV, UUV và các nền tảng tự hành tại các thực thể nhân tạo trái phép, tàu chấp pháp và tàu nghiên cứu biển phục vụ thu thập dữ liệu, giám sát hoạt động trên biển và hỗ trợ nhận diện mục tiêu.

 

Hệ thống chống drone.    Ảnh: Internet

 

Các bên liên quan như Philippines với sự hỗ trợ của Mỹ cũng đã nâng cấp sân bay, cảng biển; thử nghiệm các hệ thống USV, UUV giám sát và tích hợp dữ liệu vào hệ thống nhận thức tình huống biển nhằm phát hiện sớm các hoạt động bất thường. Trong khi đó, Đài Loan cũng phát triển các drone cảm tử nội địa cho kịch bản ứng phó phong tỏa và chống đổ bộ; Nhật Bản và Ấn Độ hợp tác với một số quốc gia ASEAN nâng cao năng lực nhận thức tình huống biển, chia sẻ dữ liệu vệ tinh, radar bờ và luồng dữ liệu từ UAV, USV.

GỢI MỞ CHO VIỆT NAM

Việt Nam có tiềm năng chiến lược trong việc ứng dụng các hệ thống không người lái để nâng cao năng lực tình báo, giám sát, trinh sát biển (ISR), củng cố năng lực nhận thức tình huống biển, bảo vệ hạ tầng ven bờ và thềm lục địa, xây dựng năng lực răn đe phi đối xứng. Đồng thời, từng bước làm chủ chuỗi giá trị CNQP nội địa, theo các hướng sau:

Về sản xuất nền tảng: Việt Nam có thể tiếp cận theo lộ trình từ thấp đến cao, bắt đầu với drone cỡ nhỏ đến trung bình (cánh cố định và cánh quay), phục vụ ISR và huấn luyện, như các loại UAV trinh sát VU-R50/VU-R70 hay UAV cảm tử VU-C2 do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) chế tạo. Sau đó, mở rộng sang UAV tầm trung và drone cảm tử cho phòng thủ theo điểm. Đối với UUV, ưu tiên phát triển phương tiện ngầm tự hành (AUV) và phương tiện điều khiển qua dây (ROV) cỡ nhỏ, vừa để rà phá mìn thủy, kiểm tra thân tàu, giám sát hạ tầng ngầm; từng bước tiến lên UUV cỡ lớn có khả năng hoạt động kéo dài. Với USV, phát triển theo hướng module hóa, tích hợp sonar, radar và liên lạc an toàn phục vụ tuần tra hạ tầng biển.

Về cảm biến và phần mềm điều khiển: Tích hợp camera quang học, hồng ngoại, thiết bị nhận diện tàu tự động AIS, radar cỡ nhỏ, sonar sóng âm cho UAV/UUV/USV. Đồng thời, phát triển phần mềm điều khiển, phân loại mục tiêu bằng AI và giao diện chia sẻ dữ liệu giữa Hải quân và Cảnh sát biển. Nghiên cứu các hệ thống dẫn đường bằng cảm biến quán tính, bản đồ đáy biển nhằm đảm bảo khả năng hoạt động khi mất tín hiệu GPS.

Về vũ khí và hệ thống đánh chặn chi phí thấp: Nghiên cứu sản xuất đạn dẫn đường laser giá rẻ, tên lửa điều khiển cỡ nhỏ cho phòng thủ theo điểm. Phát triển hệ thống gây nhiễu định hướng và phòng thủ chống drone đa tầng.

Về chuỗi cung ứng và hành lang pháp lý: Ưu tiên thiết bị và linh kiện có nguồn gốc rõ ràng, phần mềm an toàn và chuỗi cung ứng đạt chuẩn. Đồng thời, hoàn thiện các quy định pháp lý về phân vùng bay, bảo mật dữ liệu, quy tắc sử dụng vũ khí trên UAV. Thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong sản xuất thiết bị cảm biến, phần mềm điều khiển, UAV, UUV và drone giá rẻ, nâng cao năng lực kiểm soát biển.

Đối với Việt Nam, việc làm chủ và triển khai các hệ thống không người lái không chỉ giúp nâng cao năng lực ISR, bảo vệ hạ tầng chiến lược mà còn tạo dựng trụ cột trong chiến lược răn đe phi đối xứng. Đây cũng là cơ hội giúp hiện đại hóa CNQP nội địa, củng cố an ninh biển, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

DƯƠNG ĐĂNG

Nghiên cứu viên Học viện Ngoại giao

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Army Technology. What sectors will lead the defence industry in 2026?

2. Unmanned Systems Technology. Breakthroughs in Unmanned Systems in 2025: Best New Technologies, Platforms, Innovations.

3. GlobeNewswire. Military Unmanned Underwater Vehicles Research Report 2026.

4. DefenseScoop. Pentagon awards deals for laser weapons that could shoot down drone swarms.

5. AVINC (Avinium). The Math Problem Breaking Air Defense, And Why Lasers Change It.

6. CSIS China Power Project. Tracking China’s Increased Military Activities in the Indo-Pacific in 2025.

7. UAV "Made in Vietnam" tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024, Báo Nhân Dân.

 

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại