Vận dụng tư duy tiên liệu chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh

10/6/2026 9:18:00 AM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 87

CNQP&KT - Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, xung đột quân sự trên thế giới ngày càng quyết liệt, đặt ra yêu cầu tất yếu đối với phát triển nền Công nghiệp quốc phòng (CNQP) Việt Nam tự chủ, hiện đại. Do đó, việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư duy tiên liệu chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng, phát triển CNQP có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

Tư duy tiên liệu chiến lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh là năng lực nhận diện sớm xu hướng phát triển của thực tiễn, dự báo những yêu cầu đặt ra trong tương lai để chủ động chuẩn bị nguồn lực, tổ chức và phương thức hành động trước khi tình huống diễn ra. Giá trị cốt lõi của tư duy này không chỉ ở khả năng dự báo mà còn ở việc chuyển hóa dự báo thành hành động. Đây là nét nổi bật trong tư duy lãnh đạo của Hồ Chí Minh, được hình thành từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới.

Ngay từ những ngày đầu lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tập trung giải quyết những nhiệm vụ cấp bách trước mắt mà luôn kiến tạo những điều kiện căn bản cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Trong tư duy của Người, mọi thắng lợi bền vững đều phải được chuẩn bị từ sớm, từ xa; mọi nhiệm vụ trước mắt đều phải đặt trong mối liên hệ với mục tiêu chiến lược lâu dài. Chính cách tiếp cận đó đã tạo nên phong cách lãnh đạo chủ động, linh hoạt nhưng nhất quán, bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tư duy tiên liệu chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tầm nhìn vượt thời gian, nhận diện chính xác xu thế thời đại, chuẩn bị thế và lực để sẵn sàng hành động khi thời cơ đã chín muồi. Trong đó có tư duy chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao. Hồ Chí Minh luôn xác định con người là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Người nhiều lần khẳng định: "Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng"1; "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém"2. Những quan điểm đó cho thấy, chuẩn bị đội ngũ cán bộ không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn là sự đầu tư chiến lược cho tương lai. Từ tầm nhìn chiến lược đó, Hồ Chí Minh luôn coi trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng đội ngũ cán bộ, trí thức cho cách mạng. Minh chứng là, để có vũ khí đánh địch, Người đã mời kỹ sư Trần Đại Nghĩa về nước và giao cho ông việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Nhờ đó, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ đội ta mới có Bazooka, SKZ, bom bay, mìn định hướng và nhiều loại vũ khác để tác chiến trên chiến trường; đồng thời, đặt nền móng cho năng lực tự chủ về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí của Quân đội ta.

Tư duy tiên liệu chiến lược của Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở khả năng kết nối giữa nhiệm vụ trước mắt với mục tiêu phát triển lâu dài. Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, phải đồng thời đối mặt với thù trong, giặc ngoài và muôn vàn khó khăn về kinh tế, xã hội, Người vẫn kiên định quan điểm "kháng chiến đi đôi với kiến quốc". Vì thế, cùng với lãnh đạo kháng chiến, Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng chính quyền, phát triển giáo dục, đào tạo cán bộ, củng cố nền tảng kinh tế và từng bước xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu trí thức dự Hội nghị Chính trị đặc biệt (tháng 3/1964).     Ảnh: TL

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, tư duy tiên liệu chiến lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là khả năng dự báo mang tính trực giác, mà là phương pháp tư duy khoa học biện chứng dựa trên việc nhận diện đúng quy luật phát triển, chuẩn bị trước những điều kiện quyết định và chủ động kiến tạo năng lực để thích ứng với những biến đổi của tương lai. Do đó, để vận dụng sáng tạo, khoa học tư duy tiên liệu chiến lược của Người trong quá trình xây dựng đất nước nói chung và phát triển nền CNQP tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại nói riêng, cần tập trung vào một số nội dung sau:

Một là, chủ động dự báo xu hướng phát triển khoa học, công nghệ (KHCN) quân sự, tập trung xây dựng năng lực làm chủ công nghệ lõi.

Bài học từ ngành Quân giới trong kháng chiến cho thấy, sức mạnh của nền quốc phòng không chỉ phụ thuộc vào quy mô trang bị mà trước hết phụ thuộc vào khả năng tự nghiên cứu, cải tiến và làm chủ công nghệ phù hợp với điều kiện thực tiễn. Vận dụng tư duy tiên liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi CNQP chuyển từ tư duy đáp ứng nhu cầu hiện tại sang chuẩn bị năng lực cho tương lai; chủ động dự báo xu hướng công nghệ để ưu tiên đầu tư các lĩnh vực công nghệ nền, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, tự động hóa và hệ thống không người lái. Chỉ khi làm chủ được công nghệ cốt lõi mới có thể nâng cao năng lực tự chủ, giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài và tạo nền tảng phát triển bền vững.

Hai là, xây dựng đội ngũ nhân lực KHCN chất lượng cao theo tinh thần trọng dụng nhân tài của Hồ Chí Minh.

Trong tư duy của Người, chuẩn bị con người luôn là sự chuẩn bị có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Quan điểm đó đến nay vẫn giữ nguyên giá trị phương pháp luận, đặc biệt đối với phát triển CNQP trong bối cảnh KHCN trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sức mạnh quốc phòng. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phát hiện, đào tạo, thu hút và sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học; đồng thời, có chính sách đãi ngộ, tạo môi trường nghiên cứu thuận lợi và khuyến khích sáng tạo nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào phục vụ phát triển CNQP. Bên cạnh đó, cần trao quyền phù hợp cho các nhóm nghiên cứu mạnh, các tổng công trình sư và chuyên gia đầu ngành trong quá trình nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm quốc phòng. Đây không chỉ là giải pháp phát triển nguồn nhân lực mà còn là điều kiện để hình thành năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh, từng bước làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, đáp ứng yêu cầu phát triển CNQP trong dài hạn.

Ba là, phát huy hiệu quả mô hình CNQP lưỡng dụng, tăng cường gắn kết giữa quốc phòng với phát triển kinh tế.

Phát huy và hoàn thiện mô hình phát triển CNQP theo hướng lưỡng dụng, vừa đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng, vừa tham gia phát triển kinh tế đất nước. Thực tiễn cho thấy, năng lực nội sinh của CNQP đã được nâng lên. Tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024, đã có 464 sản phẩm quốc phòng "Made in Vietnam" được giới thiệu; triển lãm thu hút 66 đoàn khách quốc tế đến từ 39 quốc gia và vùng lãnh thổ, qua đó phản ánh bước tiến rõ nét về năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo của CNQP Việt Nam3. Những kết quả đó cho thấy, phát triển CNQP theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại đã và đang được hiện thực hóa.

Có thể nói, tư duy tiên liệu chiến lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh là bài học về tầm nhìn và phương pháp hành động đúng đắn. Giá trị cốt lõi của tư duy đó là luôn chuẩn bị trước một bước về con người, cơ sở vật chất, KHCN để tạo thế chủ động trước mọi biến động của thực tiễn. Việc học tập và vận dụng tư duy tiên liệu chiến lược của Người vào phát triển CNQP không chỉ là kế thừa một di sản tư tưởng quý báu, mà còn là đòi hỏi từ thực tiễn, nhằm xây dựng nền CNQP đủ năng lực đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Đại tá ĐINH TRƯỜNG SƠN

Trường Sĩ quan Lục quân 1/Bộ Quốc phòng

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1, 2. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 5. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 315-316.

3. Báo cáo tổng kết công tác Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024.

 

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại