Giai đoạn 1954-1975, Quân giới Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ phải đối mặt với khó khăn thường trực khi nhu cầu vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang trên chiến trường ngày càng tăng cao, trong khi đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn lại mỏng. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, phần lớn lực lượng kỹ thuật nòng cốt của ta đã tập kết ra miền Bắc. Số lượng cán bộ Quân giới được bí mật bố trí ở lại miền Nam vô cùng ít ỏi. Tại địa bàn Quân khu 7 rộng lớn, chỉ còn khoảng 50 cán bộ, chiến sĩ rải rác ở các căn cứ. Trong khi đó, hầu hết trang thiết bị, máy móc tại các công xưởng sản xuất vũ khí ở miền Tây Nam Bộ đã được tháo dỡ để chuyển giao hoặc chôn giấu. Để giải quyết bài toán thiếu hụt vũ khí trầm trọng cho phong trào cách mạng miền Nam, các cấp ủy Đảng xác định đào tạo và phát triển nhân lực kỹ thuật chính là khâu then chốt nhất, là chìa khóa để xây dựng lại Quân giới Nam Bộ từ hai bàn tay trắng.
Cột mốc đầu tiên đánh dấu sự chuyển mình của công tác đào tạo nguồn nhân lực Quân giới là sự ra đời của Đội huấn luyện 557 vào tháng 5/1957, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Nghiên cứu thuộc Cục Quân giới. Nhiệm vụ của Đội 557 là bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật quân khí cho cán bộ, chiến sĩ gốc miền Nam tập kết ra Bắc. Từ tháng 12/1959, đơn vị liên tục mở các khóa huấn luyện chuyên sâu. Khóa I gồm 42 học viên và khóa II tiếp nhận thêm 28 học viên; được trang bị hệ thống kiến thức toàn diện về cấu tạo vũ khí cơ bản, hóa học thuốc nổ, quy trình chế tạo chất nổ dã chiến và các phương pháp quản lý xưởng, trạm... Ngay sau khi hoàn thành chương trình học tập, các học viên tỏa về khắp các quân khu, tỉnh thành miền Nam, trở thành nòng cốt xây dựng các xưởng sản xuất dã chiến giữa rừng sâu.
Cuối năm 1961, tại chiến trường B2, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục và Ban Quân sự Miền, một "trường quân khí chính quy" mang mật danh Trường 505 đã được thành lập ngay giữa căn cứ chiến khu A. Đối tượng tuyển sinh là những chiến sĩ, thanh niên xung phong có năng khiếu về kỹ thuật được tuyển chọn từ các vùng căn cứ và vùng địch kiểm soát thuộc các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Long An và Trà Vinh. Với đội ngũ giảng viên là những chuyên gia, kỹ sư dày dạn kinh nghiệm, Trường 505 áp dụng đào tạo ngắn hạn và thực hành, tập trung vào những yêu cầu bức thiết của mặt trận: kỹ thuật đúc gang trong điều kiện lò dã chiến, công thức pha chế thuốc nổ đen từ nguyên liệu địa phương, quy trình sửa chữa và phục hồi các loại súng bộ binh thu được của địch. Do yêu cầu cơ động chiến đấu khẩn cấp, chỉ tổ chức được một khóa học trước khi giải thể, Trường 505 đã kịp thời cung cấp cho Quân giới Miền đội ngũ thợ kỹ thuật có tay nghề vững vàng. Lực lượng này đã trở thành bộ khung kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu vũ khí của phong trào Đồng Khởi.

Sản xuất vũ khí trong binh công xưởng ở Nam Bộ. Ảnh: TL
Khi chiến tranh bước vào giai đoạn leo thang ác liệt, ngành Quân giới lại linh hoạt áp dụng và nhân rộng mô hình "học tập tại xưởng" để nâng cao trình độ tay nghề cho người thợ. Tại Bến Tre, Ban Quân giới tỉnh đề ra quy định: mỗi công nhân phải dành ít nhất 2 giờ mỗi ngày để bổ túc văn hóa và lý thuyết kỹ thuật. Trong phong trào này, có nhiều cá nhân điển hình, tiêu biểu là đồng chí Chín Tùng, đã miệt mài tự học tập, nghiên cứu các tài liệu kỹ thuật nước ngoài, cải tiến thành công công nghệ đúc vỏ đạn dã chiến, giúp giảm thiểu tỷ lệ sản phẩm lỗi. Bên cạnh đó, Xưởng Quân giới Bến Tre còn chủ động cử các kỹ thuật viên giỏi về các xưởng huyện như Giồng Trôm, Thạnh Phú, Bình Đại để trực tiếp cầm tay chỉ việc, hướng dẫn nhân dân và du kích kỹ thuật sản xuất đầu lựu đạn, cách uốn lò xo kim hỏa bằng phương pháp thủ công.
Mô hình đào tạo phân tán cũng được triển khai sáng tạo tại vùng đất mũi Cà Mau. Các công trường Quân giới cấp huyện thường xuyên cử công nhân tham gia các lớp bồi dưỡng kỹ thuật cấp tốc do tỉnh tổ chức trong thời gian ngắn, từ 15 đến 17 ngày. Sau khi tốt nghiệp, những người thợ lại trở về trực tiếp truyền thụ kiến thức, hướng dẫn cho các tổ Quân giới du kích tại các xã, ấp. Cách làm này tạo ra phương pháp truyền nghề liên tục, giúp mạng lưới sản xuất vũ khí tự chế phủ khắp toàn bộ địa bàn nông thôn miền Nam. Còn tại các xưởng quy mô lớn hơn của Miền, như Xưởng Z26 (trước đây là Xưởng B55), phong trào "kèm cặp lẫn nhau" hay "bạn giúp bạn" diễn ra vô cùng sôi nổi. Ban Giám đốc xưởng đã chủ động tổ chức các lớp học bổ túc văn hóa kết hợp với lý thuyết cơ khí chuyên sâu đều đặn 3 buổi mỗi tuần; giúp giải quyết triệt để bài toán nâng cao trình độ tay nghề thợ chuyên môn.
Bước sang giai đoạn 1961-1964, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước có chuyển biến lớn về chiến lược, đòi hỏi vũ khí phải tiến lên bán công nghiệp, sản xuất được các loại hỏa lực mạnh có độ chính xác cao. Để đáp ứng yêu cầu đó, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định tổ chức những đợt chi viện trí thức quy mô lớn cho tiền tuyến. Tháng 2/1962, một đoàn cán bộ kỹ thuật gồm 30 đồng chí được tuyển chọn từ các nhà máy ở miền Bắc hành quân vào Nam. Tháng 10/1962, một đoàn gồm 16 thợ lành nghề từ các xí nghiệp cơ khí lớn tiếp tục được bổ sung cho Xưởng B55. Đặc biệt tháng 12/1963, đoàn cán bộ kỹ thuật gồm những kỹ sư tài năng của ngành Quân giới lúc bấy giờ, như: Nguyễn Thanh Vọng, Nguyễn Thuần Phong, Phan Tuấn Kiệt, Lê Minh Hồng đã lên đường vào miền Nam, cùng với thợ địa phương nghiên cứu, ứng dụng thành công các công nghệ phức tạp như kỹ thuật dập vít-me để sản xuất hàng loạt vỏ mìn định hướng và ống đuôi lựu phóng với độ chính xác cơ khí cao, tạo ra những loại vũ khí có sức công phá mạnh mẽ khiến kẻ thù khiếp sợ.
Trên chiến trường ác liệt, bản lĩnh, trí tuệ của người Việt Nam đã được tôi luyện và đẩy lên tới những giới hạn phi thường. Lịch sử ngành Quân giới mãi mãi ghi danh những tấm gương tự học và sáng tạo xuất sắc, tiêu biểu là đồng chí Chín Nghĩa, tên thật là Nguyễn Văn Nghĩa. Ông là người thợ tài năng, giỏi nhiều nghề, tâm huyết với công tác sư phạm thực hành, trực tiếp đứng lớp, đào tạo hàng chục học viên trẻ tại xưởng cơ khí của Xứ ủy (mang mật danh A8), giúp nâng cao năng lực sản xuất các loại vũ khí hỏa lực mạnh cho cơ quan đầu não cách mạng. Một tấm gương khác là đồng chí Nguyễn Quốc Việt, công nhân trẻ tại Xưởng Z26, đã dũng cảm dấn thân vào lĩnh vực nguy hiểm nhất: nghiên cứu và tháo gỡ các loại bom mìn chưa nổ của Quân đội Mỹ. Ông đã có hàng loạt sáng kiến độc đáo về phương pháp tháo ngòi bom từ xa, cưa vỏ bom tấn để lấy thuốc nổ; giúp Xưởng Z26 thu hồi hàng chục tấn thuốc nổ Comp B chất lượng cao - nguồn nguyên liệu khan hiếm và quý giá lúc đó, phục vụ chế tạo mìn định hướng ĐH10 có sức công phá lớn. Ngoài ra, không thể không nhắc đến người thợ tiện tài hoa Năm Hữu. Ông đã tự nghiên cứu chế tạo thành công hệ thống bộ phận vít, ốc cho thước ngắm của súng máy phòng không 12,7mm và đại liên M30. Kết quả này đã khơi dậy phong trào thi đua tự tạo chi tiết máy trong toàn ngành Quân giới.
Có thể nói, công tác đào tạo nhân lực kỹ thuật ngành Quân giới trong giai đoạn 1954-1975 không chỉ đáp ứng kịp thời yêu cầu trang bị vũ khí cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mà còn tạo ra một "thế hệ vàng" các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật, thợ lành nghề làm nòng cốt cho sự nghiệp xây dựng đất nước sau ngày hòa bình. Đó chính là "quả ngọt" của một tư duy quản trị nhân sự mang tầm nhìn chiến lược, luôn lấy con người làm trung tâm, hạt nhân cốt lõi của sức mạnh quốc phòng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
QUANG DƯƠNG