Huyền thoại thủy lôi tự tạo trên dòng Cửu Long

9/2/2026 3:54:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 38

CNQP&KT - Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cuộc đọ sức trên các tuyến đường thủy Nam Bộ là những chiến công đầy sáng tạo của quân ta. Đối mặt với các giang đoàn tàu sắt hiện đại và đội tàu rà mìn tối tân của Mỹ-ngụy, Quân giới Nam Bộ đã phát huy trí tuệ và tinh thần tự lực, tự cường, chế tạo nên những loại thủy lôi đặc sắc; biến sông rạch thành mồ chôn quân giặc, đánh bại chiến thuật rà quét của địch trên dòng Cửu Long hùng vĩ.

Chiến trường Nam Bộ với địa hình sình lầy, sông ngòi chằng chịt vừa là lợi thế cho lối đánh du kích, nhưng cũng đặt ra bài toán hóc búa về vũ khí hỏa lực khi đối đầu với các phương tiện cơ động đường thủy của địch. Từ đầu những năm 1960, đế quốc Mỹ đã triển khai chiến thuật "Sóng tình thương", huy động các giang đoàn tàu sắt và hạm đội nhỏ liên tục tuần tiễu, phong tỏa các tuyến sông chính như sông Cái Tàu, sông Đốc, sông Trẹm. Đặc biệt, để vô hiệu hóa chiến thuật phục kích của ta, địch trang bị các tàu rà mìn hiện đại với máy dò tìm tiếng động và hệ thống kích nổ từ xa. Trước tình thế đó, nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho ngành Quân giới là phải sản xuất được các loại thủy lôi có sức công phá lớn, có khả năng nằm chờ lâu ngày dưới nước và vượt qua được sự phát hiện của các thiết bị rà quét hiện đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu và sản xuất thủy lôi tập trung tại các xưởng Quân giới thuộc Quân khu 8 và Quân khu 9. Tại miền Tây, Công trường 310 (T3) nằm giữa rừng tràm U Minh Thượng và U Minh Hạ đã trở thành trung tâm sản xuất dã chiến quy mô. Dưới sự chỉ đạo của Ban Quân giới Miền, trực tiếp là các đồng chí Võ Văn Bàng (Sáu Phi), Nguyễn Trung Thành (Ba Rèn) và Tạ Hữu Đức, các phân xưởng chuyên trách đã được thiết lập. Tại xưởng Hồng Dân (Cà Mau), các kỹ sư Quân giới không chỉ tập trung vào lĩnh vực cơ khí mà còn đi sâu vào ngành hóa chất để nghiên cứu tự chủ nguồn thuốc nổ và ngòi nổ cho thủy lôi.

Quá trình sản xuất thủy lôi trong rừng sâu là một hành trình "biến không thành có". Do nguồn thuốc nổ TNT từ miền Bắc chi viện chưa đáp ứng đủ nhu cầu, Quân giới Nam Bộ đã thực hiện phong trào "cưa bom lấy thuốc" từ bom đạn lép của Mỹ. Đây là công việc đòi hỏi lòng dũng cảm phi thường; nhiều đồng chí như Nguyễn Đức Vân (Ninh Thuận) hay Tám Hạnh (xưởng B8) đã anh dũng hy sinh trong quá trình tháo gỡ bom mìn. Những người thợ Quân giới sử dụng thuốc nổ Comp B (hỗn hợp 60% Hexogen và 40% TNT) thu được từ bom Mỹ - một loại thuốc nổ cực mạnh, chuyên dùng cho pháo hạm, để nhồi vào thủy lôi của ta. Riêng đối với các loại thủy lôi cỡ lớn, ta còn tận dụng thuốc nổ Tritonal (TNT trộn bột nhôm) từ các loại bom dùi của địch để tăng sơ tốc phát nổ và khả năng gây cháy.

Quân giới Nam Bộ khai thác vật tư nguyên liệu sản xuất vũ khí.     Ảnh: TL

Khó khăn lớn nhất khi sản xuất vũ khí thủy là tình trạng nước mặn xâm nhập làm hỏng ngòi nổ và ẩm thuốc nổ. Tổ kỹ thuật của Miền đã nghiên cứu thiết kế lại kết cấu ngòi nổ điện, sử dụng các vật liệu cách điện và keo trám kín dã chiến. Kết quả đạt được là một kỳ tích: các loại ngòi nổ thủy lôi tự tạo có khả năng ngâm nước suốt 6 tháng mà vẫn hoạt động tốt. Điều này cho phép các đơn vị đặc công nước có thể bí mật dàn trận tại các điểm hiểm yếu từ rất sớm, chờ đợi thời cơ thuận lợi nhất để kích nổ mà không sợ vũ khí bị "tịt ngòi".

Thủy lôi do Quân giới Nam Bộ thiết kế có nhiều kích cỡ khác nhau: 30kg, 70kg, 100kg, 200kg và 300kg. Vỏ thủy lôi thường được đúc bằng gang dày hoặc tận dụng vỏ thùng phuy thép, bên ngoài quấn thêm các lớp dây thép để tăng khả năng chịu áp suất nước và tăng độ văng mảnh. Các thợ Quân giới tại xưởng Z26 đã tính toán trọng lượng riêng của từng loại vỏ và khối lượng thuốc nổ để đạt được độ nổi thích hợp. Thủy lôi không chìm sát đáy bùn (dễ bị phù sa vùi lấp) cũng không nổi lờ lững trên mặt nước (dễ bị tàu rà phát hiện), mà được cố định ở độ sâu vừa đủ để có thể tiếp xúc trực tiếp với bụng tàu địch khi chúng đi ngang qua. Sản phẩm "đặc chủng" đánh tàu của Quân giới Nam Bộ gồm: thủy lôi 250kg hẹn giờ do xưởng Hồng Dân nghiên cứu, cho phép điểm hỏa tự động sau một khoảng thời gian nhất định, giúp chiến sĩ rút lui an toàn trước khi tàu địch tới. Súng SS 60 (Lan-xơ-bom), được mệnh danh là "thủy lôi bay"; bắn đầu đạn nặng 12kg nhồi thuốc Comp B đi xa 350m. Đặc biệt, loại đạn SSAL có khả năng xuyên thủng thép dày 10mm của tàu Mỹ...

Hiệu quả của hỏa lực thủy lôi đã được chứng minh qua những trận đánh làm kinh hoàng bộ chỉ huy Hải quân Mỹ. Đỉnh cao của nghệ thuật sử dụng thủy lôi tự tạo là trận đánh trên sông Vàm Cỏ Tây (xã Hữu Thạnh, huyện Kiến Tường) vào ngày 14/9/1963. Một đơn vị đặc công dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Văn Tường đã dàn trận phục kích bằng thủy lôi của xưởng tỉnh. Khi đoàn tàu địch lọt vào trận địa, ta đã mưu trí áp dụng thành công chiến thuật nghi binh, cho tàu rà mìn đi đầu lọt qua và kích nổ quả thủy lôi ngay dưới bụng tàu chủ lực. Tiếng nổ lớn rung chuyển dòng sông đã đánh chìm tàu tại chỗ, tiêu diệt 227 tên địch. Đây là "cái tát" đau đớn vào công nghệ dò tìm mìn của Mỹ, khẳng định sự ưu việt của ngòi nổ điện và khả năng ngụy trang "ngủ đông" dưới lòng sông của Quân giới Nam Bộ.

Để đưa được những quả thủy lôi nặng hàng trăm cân từ xưởng sản xuất đến trận địa là một kỳ tích của công tác vận tải. Các đơn vị vận tải như Đoàn K10 (Rừng Sác) đã sử dụng công nghệ "ghe hai đáy". Thủy lôi được giấu kín ở ngăn dưới, trong khi lớp trên vẫn chở tro trấu hoặc hàng hóa dân sinh để vượt qua các trạm kiểm soát của cảnh sát đường thủy. Những gia đình cơ sở như ông Chín Ngãi (Bến Tre) đã dũng cảm vận hành đội ghe này suốt nhiều năm để chuyển hàng chục tấn thủy lôi về các bến an toàn.

Có thể khẳng định, những quả thủy lôi tự tạo của Quân giới Nam Bộ là biểu tượng của tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam. Những chiến thắng vang dội của quân và dân ta đã viết nên trang sử vàng chói lọi, khẳng định rằng bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam luôn là vũ khí mạnh mẽ nhất, đánh bại mọi ưu thế máy móc hiện đại của kẻ thù.

THANH QUANG

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại