Súng “ngựa trời”: Sản phẩm của tinh thần tự lực

4/21/2026 8:11:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 32

CNQP&KT - Trong những năm tháng đen tối nhất của cách mạng miền Nam (1954-1959), khi chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực thi chính sách "tố cộng, diệt cộng" tàn khốc, Quân giới Nam Bộ đứng trước một bài toán sinh tử: Làm thế nào để trang bị hỏa lực cho lực lượng kháng chiến khi nguồn viện trợ từ miền Bắc chưa có? Trong hoàn cảnh đó, súng "ngựa trời" đã ra đời, minh chứng cho tinh thần sáng tạo tự lực, tự cường, biến những vật liệu tầm thường thành nỗi khiếp đảm của kẻ thù.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, tình hình miền Nam trở nên cực kỳ khắc nghiệt. Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, kẻ thù ráo riết thực hiện chính sách "tố cộng, diệt cộng", dồn dân vào ấp chiến lược. Lực lượng vũ trang của ta lúc đó rơi vào tình trạng thiếu vũ khí trầm trọng. Mặc dù trước khi tập kết, ta đã chủ động chôn giấu vũ khí, nhưng do điều kiện bảo quản trong lòng đất sình lầy, nước ngập tại các vùng như Đồng Tháp Mười, rừng U Minh, nhiều hầm vũ khí bị rỉ sét, hư hỏng hoặc bị địch phát hiện.

Đến những năm 1957-1959, nhu cầu hỏa lực để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị và tiến tới khởi nghĩa vũ trang càng trở nên cấp bách. Trong khi quân địch được trang bị súng hiện đại, quân ta chỉ có vũ khí thô sơ như dao găm, mã tấu, giáo mác. Chính sự chênh lệch này đã thúc đẩy các cán bộ Quân giới tại địa phương nghiên cứu, chế tạo loại vũ khí mới từ hai bàn tay trắng.

Cái tên súng "ngựa trời" bắt đầu được nhắc đến nhiều nhất từ vùng đất Long An. Tại xưởng Quân giới Long An, dưới sự chỉ huy của đồng chí Hai Thanh, loại súng này đã được thai nghén và ra đời vào khoảng năm 1956. Trong bối cảnh thiếu máy móc, thiết bị kỹ thuật gần như bằng 0, đồng chí Hai Thanh đã phát huy tinh thần của những người thợ rèn, thợ gò để thiết kế một loại súng có khả năng phát hỏa mạnh mẽ nhưng cấu tạo lại cực kỳ đơn giản.

Một số loại súng "ngựa trời" do Quân giới Nam Bộ chế tạo.       Ảnh: TL

Cấu tạo ban đầu của súng chỉ là một ống thép (ống nước hoặc ống vô lăng xe ô tô). Một đầu ống được đập dẹp, tán dày rồi khoan một lỗ nhỏ để làm lỗ mồi lửa. Thuốc súng đen tự chế được nén chặt xuống đáy, sau đó là lớp giấy bìa chặn lại và cuối cùng là nạp "đạn". Điều làm nên sự đặc biệt của súng "ngựa trời" chính là ở phần đạn: người thợ Quân giới tận dụng mọi phế liệu có thể tìm thấy như mảnh sắt vụn, dây kẽm gai cắt ngắn, sỏi đá, hay mảnh chai để sản xuất đạn. Khi bắn, súng được đặt trên một giá đỡ gỗ thô sơ, châm lửa bằng dây tiêm đạo hỏa. Dù vẻ ngoài trông kỳ dị, loại vũ khí này đã ngay lập tức chứng minh được giá trị thực tế trong việc sát thương sinh lực địch ở tầm gần.

Tại Bến Tre, sự ra đời của súng "ngựa trời" gắn liền với ý tưởng sáng tạo của đồng chí Ba Thành và Út Tam. Ý tưởng ban đầu xuất phát từ "ống lôi" - loại ống rỗng dùng để đốt khí đá tạo tiếng nổ lớn. Các đồng chí đã nghiên cứu biến tiếng nổ ấy thành sức mạnh phóng mảnh sát thương.

Để có vật liệu làm mảnh đạn, nhân dân Bến Tre đã có những đóng góp vô giá. Đồng chí Hai Đức ở xã Châu Hòa (nay là xã Châu Hòa, tỉnh Vĩnh Long) đã hiến tặng hai bộ lư và hai nồi đồng lớn - những kỷ vật gia truyền để làm nguyên liệu đúc súng và mảnh đạn. Thậm chí, người dân còn quyên góp cả chảo gang nấu đường để đập ra làm hàng nghìn mảnh sát thương nhỏ. Những mảnh gang sắc lẹm này sau đó được ngâm vào chất độc hoặc nước tiểu trước khi nạp vào súng để tăng khả năng gây nhiễm trùng.

Hiệu quả của súng "ngựa trời" Bến Tre đã được chứng minh trong trận chống càn ngày 25/3/1960 tại xã Phước Hiệp. Quân địch với số lượng lên tới 10.000 tên đã đánh vào 3 xã điểm Đồng Khởi. Tại đây, các đơn vị du kích đã sử dụng súng "ngựa trời" phục kích, khiến quân địch khiếp sợ và phải thốt lên rằng đây là loại vũ khí "trầy da cũng chết". Trận đánh kết thúc, 50 tên địch thiệt mạng, số còn lại hốt hoảng rút lui trước hỏa lực thô sơ nhưng đầy uy lực của ta.

Khi phong trào du kích lan rộng sang vùng đất thép Củ Chi, súng "ngựa trời" lại tiếp tục được cải tiến bởi những trí tuệ Quân giới. Đồng chí Tô Văn Đực (Tô Hoài Đức) ở xã Nhuận Đức đã nghiên cứu tận dụng nòng súng trường Mỹ bị hư hỏng hoặc các ống thép phế thải từ nhà máy Ba Son đưa về để chế tạo súng. Đặc biệt, nòng súng "ngựa trời" tại đây thường được làm từ ống vô lăng tay lái xe ô tô, được tóp lại và dùng con lói tống vào để tạo rãnh xoắn nòng, giúp đạn đi ổn định và chính xác hơn. Sự cải tiến này cho thấy người thợ Quân giới Nam Bộ không chỉ biết "làm liều" mà còn không ngừng tìm tòi các nguyên lý khoa học để nâng cao hiệu suất vũ khí. Đồng chí Tô Văn Đực đã được tặng danh hiệu "kỹ sư bom bi" vì những sáng kiến độc đáo.

Súng "ngựa trời" không chỉ xuất hiện ở vùng đồng bằng mà còn vươn sâu vào các căn cứ Làng Rừng tại Cà Mau và Bạc Liêu. Tại các huyện như Trần Văn Thời, Cái Nước, Hồng Dân, hệ thống lò rèn xã, ấp đã mọc lên khắp nơi để sản xuất súng thô sơ. Tại xã Vĩnh Lộc (Hồng Dân), xưởng Quân giới đã sản xuất súng "ngựa trời" để trang bị cho du kích xã. Ở Cà Mau, nhân dân và du kích còn gọi loại súng này bằng những cái tên đầy hào sảng như "đại bác nông dân". Thậm chí, tại xưởng Y4 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định), các kỹ sư Quân giới còn cải tiến hệ thống điểm hỏa bằng điện, cho phép điều khiển bắn từ xa, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người sử dụng.

Thống kê cho thấy, chỉ riêng tại Nam Bộ đã có tới 40 loại súng "ngựa trời" khác nhau, từ loại nòng nhỏ cầm tay đến loại nòng lớn đặt trên giá cố định có khả năng sát thương cả một tiểu đội địch đang hành quân. Tại Ninh Thuận (cực Nam Trung Bộ), những nhóm vũ trang đầu tiên cũng đã dùng cung ná và súng "ngựa trời" để bảo vệ xóm làng từ những năm 1959.

Có thể nói, súng "ngựa trời" chính là hiện thân của tinh thần tự lực, tự cường và trí tuệ vô song của những người lính Quân giới Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Trong khói lửa chiến tranh, khi nguồn chi viện từ miền Bắc chưa tới, chính những người thợ Quân giới đã tạo nên những huyền thoại vũ khí và đến nay vẫn còn nguyên giá trị cho định hướng phát triển Công nghiệp quốc phòng Việt Nam trong thời đại mới.

NAM TRUNG

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại