Tự chủ vật liệu nổ trong núi rừng Việt Bắc

6/3/2026 7:30:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 18

CNQP&KT - Trong những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, từ những "phòng thí nghiệm" thô sơ đặt giữa núi rừng Việt Bắc, một thế hệ trí thức yêu nước đã làm nên những thành tích phi thường. Không chỉ dừng lại ở việc chế tạo thuốc nổ, các kỹ sư Quân giới đã đặt những "viên gạch" đầu tiên cho nền khoa học vật liệu nổ quân sự Việt Nam.

Tháng 1/1947, lịch sử ngành Quân giới - Công nghiệp quốc phòng (CNQP) Việt Nam ghi một dấu mốc quan trọng khi Nha Nghiên cứu Kỹ thuật được thành lập tại Ứng Hòa, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Trong đó có Phòng Hóa chất do kỹ sư Phạm Đồng Điện (sau này là Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa) làm trưởng phòng. Đây là thời điểm mà khái niệm về một nền khoa học quân sự chính quy còn rất mới mẻ, nhưng những trí thức trẻ như Phạm Đồng Điện, Hồ Thanh Kha, Lê Thu… đã bắt đầu cuộc hành trình qua các địa danh lịch sử từ Ứng Hòa ngược lên Tuyên Quang, vào Piakhao, rồi "cắm chốt" tại những hang động ở Bắc Kạn để nghiên cứu thuốc nổ và hỏa cụ phục vụ chế tạo vũ khí.

Tại những "phòng thí nghiệm" đặc biệt đặt trong lòng hang đá, những nhà khoa học Quân giới đầu tiên đã khảo sát tỉ mỉ các loại vũ khí thu được từ kho của Trung đoàn Hà Tuyên. Họ nghiên cứu đủ loại, từ thuốc Melinite, Dynamite đến những vũ khí tinh vi của địch lúc bấy giờ như mìn nhảy, đạn chống tăng PIAT và đặc biệt là các loại ngòi nổ chậm hóa học. Đỉnh cao của tinh thần sáng tạo giai đoạn này là chiến công trong chiến dịch Sông Lô năm 1947. Nhóm nghiên cứu gồm các đồng chí Hồ Thanh Kha, Lê Thu cùng các cộng sự đã thực hiện cải biên đầu đạn 320mm cũ thành thủy lôi và địa lôi. Bằng cách thay thuốc đen bằng Nitrocellulose cao bông, vận dụng kinh nghiệm mồi lửa điện từ súng Bazooka và kiểm tra cầu điện trở bằng milliampe kế, nhóm đã tạo ra những vũ khí có uy lực mạnh, góp phần bẻ gãy "gọng kìm" bằng đường thủy, đập tan ý đồ "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp trên dòng sông Lô lịch sử. Đây không chỉ là thắng lợi về quân sự, góp phần củng cố vững chắc căn cứ địa Việt Bắc, đưa cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới, mà còn khẳng định năng lực làm chủ kỹ thuật công nghệ của đội ngũ cán bộ Quân giới trong điều kiện kháng chiến còn nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Song song đó, công tác nghiên cứu tại Piakhao và Bắc Kạn đã giúp hoàn thiện quy trình chế tạo Fulminat thủy ngân - một loại chất nổ có độ nhạy nổ cao, được sử dụng để mồi nổ. Việc làm chủ công nghệ sản xuất thuốc nổ mồi ngay tại chiến khu đã giải quyết được nút thắt lớn nhất trong việc chế tạo vũ khí lúc đó.

Bước sang năm 1948-1949, khi cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn mới, nhu cầu về thuốc nổ tại các xưởng Quân giới càng trở nên cấp bách. Tại Đồng Chiêm, bên tả ngạn sông Lô, các kỹ thuật viên Phạm Huy Hùng, Đình, Lượng, Hải đã nghiên cứu thành công thuốc nổ Cheddit (hỗn hợp KClO3 + Paraffin + Minium) thay thế cho TNT vốn cực kỳ khan hiếm tại Việt Nam lúc đó. Đồng thời, thử nghiệm thành công thuốc nổ "Diêm tô" (NaNO3 + Tolit) sử dụng cho nhồi đạn cối. Để có được những thành công này, các nhà khoa học Quân giới đã phải thực hiện những chuyến đi xuyên rừng đầy gian khổ. Điển hình là đoàn công tác đi Bố Hạ (Bắc Giang) vào tháng 5/1949 với nhiệm vụ lọc diêm tiêu (KNO3) từ phân dơi trong các hang sâu, tinh chế dầu thầu dầu để chạy máy và nâng cao nồng độ cồn etylic để chế tạo Fulminat thủy ngân.

Cán bộ kỹ thuật nghiên cứu sản xuất vũ khí trong kháng chiến chống thực dân Pháp.   Ảnh: TL

Tinh thần sáng tạo còn thể hiện tại các xưởng sản xuất như Phạm Hồng Thái (Thái Nguyên), nơi các đồng chí Hồ Thanh Kha, Hồ Hữu Phương, Cảo, Kiệu đã tối ưu hóa quy trình điện phân KCl để chế tạo KClO3, đồng thời cải tiến phương pháp kết tinh để chống cháy nổ trong sản xuất quy mô lớn. Tại xưởng Thung Ong, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Phạm Duy Khương và Hồ Súy, quy trình sản xuất Axit Nitric (HNO3) và Fulminat thủy ngân đã đạt đến độ ổn định cao với số lượng lớn, hình thành nên những "dây chuyền" sản xuất hóa chất quân sự đầu tiên của Quân đội ta.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ của các nhà khoa học Quân giới cũng thấm đẫm những sự hy sinh thầm lặng. Ngày 4/2/1949, một vụ nổ lớn xảy ra khi các đồng chí Phan Thượng Trí, Lượng, Tuyên đang nghiên cứu lựu đạn cháy và khói, khiến đồng chí Trí vĩnh viễn mất đi bàn tay trái. Trước đó, cuối năm 1948, người chiến sĩ trẻ Nguyễn Văn Huỳnh đã hy sinh khi đang thử dây nổ. Tuy vậy, những hy sinh, mất mát ấy không làm chùn bước các nhà khoa học Quân giới mà càng thôi thúc họ nghiên cứu sâu hơn về độ an toàn và hiệu quả của hỏa cụ. Tại xưởng K6 (Chùa Hương), các nhà khoa học Quân giới đã thiết kế, chế tạo thành công ngòi nổ chậm hóa học. Sản phẩm này sau đó đã được các đội biệt động dùng để đánh phá các sân bay Bạch Mai, Gia Lâm, Cát Bi, phá hủy hàng chục máy bay địch và đánh chìm Thông báo hạm Amyot D’Inville, đêm 26/9/1950, tại vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hóa, gây hoang mang tột độ cho đội quân viễn chinh Pháp.

Giai đoạn 1949-1953 tại Nà Lằng (Chợ Mới, Bắc Kạn) chứng kiến những bước tiến vượt bậc trong nghiên cứu hóa chất bằng vật liệu tại chỗ. Các đồng chí Hồ Hữu Phương, Hồ Thanh Kha, Nguyễn Đăng Hiển đã nghiên cứu chế tạo thành công Axit Nitric từ đất sét và diêm tiêu. Đặc biệt, phương pháp tinh chế Fulminat thủy ngân bằng Axit Nitric loãng đã giúp phục hồi được khoảng 500kg thuốc nổ mồi bị hư hỏng, một số lượng cực kỳ lớn trong điều kiện mỗi gam thuốc nổ đều quý như máu.

Những kiến thức vững chắc về lý thuyết hóa học còn giúp các cán bộ nghiên cứu của Phòng Hóa chất giải quyết được những "căn bệnh" kỹ thuật hóc búa nhất mà thực tiễn sản xuất thô sơ lúc đó gặp phải. Năm 1951, khi phát hiện các nụ xùy kiểu cũ thường xuyên bị "tịt" sau vài tháng lưu kho, các đồng chí Lê Thu, Phan Thượng Trí, Huấn đã tiến hành thực nghiệm và tìm ra nguyên nhân là do hàm lượng Sb tự do trong sulfur antimon tổng hợp gây hiện tượng tự hủy Fulminat thủy ngân trong môi trường ẩm. Từ đó, một mẫu nụ xùy mới không dùng fulminat, với vỏ và dây bằng đồng đỏ đã ra đời, thay thế hoàn toàn các mẫu cũ kém ổn định. Đặc biệt năm 1953, khi có thông báo tại Liên khu 3-4 có khoảng 30 vạn quả lựu đạn bị hỏng ngòi nổ, nhóm nghiên cứu do các đồng chí Lê Thu, Hồ Thanh Kha, Hồ Hữu Phương, Phan Thượng Trí, Lượng, Chân đã thực hiện một loạt các phân tích lý hóa và phát hiện nguyên nhân ăn mòn điện hóa do chênh lệch điện thế giữa đồng đỏ và đồng thau trong cấu tạo ngòi, từ đó quyết định chuyển đổi nhanh sang mẫu nụ xùy nhồi ướt vỏ đồng đỏ. Thành công này đã giúp đưa số lựu đạn hỏng vào chiến đấu, góp phần đảm bảo đủ vũ khí cho chiến trường Điện Biên Phủ đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất.

Cùng với những nghiên cứu trực tiếp phục vụ chiến trường, một công tác âm thầm nhưng mang tính nền tảng đã được Phòng Hóa chất triển khai, đó là biên soạn hệ thống tài liệu khoa học. Dưới sự chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu - người đã trực tiếp cung cấp những bộ sách kinh điển của Pháp, Đức, Anh như "Les poudres et explosifs" (thuốc phóng và thuốc nổ) hay bộ "Thorpe’s Dictionary" đồ sộ (12 tập) thông tin chi tiết về các nguyên tố, hợp chất, quy trình hóa học công nghiệp… tạo nên một "thư viện khoa học" quý giá giữa rừng già Việt Bắc. Từ nguồn tri thức tinh hoa này, các cán bộ của Phòng đã biên soạn hàng loạt tài liệu huấn luyện về lý thuyết chất nổ, công nghệ sản xuất Fulminat thủy ngân, ngòi nổ chậm và các phương pháp phân tích kiểm tra chất nổ theo tiêu chuẩn chính quy. Những bản thảo đầu tiên như "Lý thuyết chất nổ" do kỹ sư Phạm Đồng Điện soạn thảo, cùng hàng loạt chuyên đề về "Sơ lược chất nổ", "Pháo dù và pháo hiệu", "Ngòi nổ chậm hóa học", hay "Chế tạo nụ xùy" đã lần lượt ra đời giữa núi rừng Việt Bắc. Các tài liệu này không dừng lại ở mô tả lý thuyết mà đi sâu vào phân tích định tính, định lượng hóa chất và kim loại; thiết lập các quy trình kiểm tra chất lượng hỏa cụ, đạn dược một cách bài bản. Những tài liệu này sau đó đã được Cục Quân giới ban hành chính thức thành các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm và quy tắc an toàn chất nổ, đưa việc sản xuất vũ khí từ thủ công, manh mún tiến lên chính quy, khoa học. Bên cạnh đó, công tác huấn luyện và chuyển giao kỹ thuật chế tạo vật tư, thuốc nổ cũng được Phòng Hóa chất thực hiện nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân có trình độ tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu sản xuất tại chỗ của các địa phương. Tại các địa bàn chiến lược như Bắc Kạn, Bố Hạ, K6 (Chùa Hương) hay các lớp học đặc biệt cho cán bộ Khu 5, nội dung huấn luyện luôn tập trung vào các vấn đề cốt lõi: lý thuyết chất nổ, quy trình sản xuất và tinh chế nguyên liệu hỏa cụ.. Chính sự kết hợp giữa biên soạn tài liệu và huấn luyện bài bản đã giúp hình thành một đội ngũ cán bộ kỹ thuật nòng cốt giỏi cả lý thuyết lẫn thực hành, giúp các xưởng Quân giới giảm thiểu tai nạn cháy nổ và nâng cao hiệu suất tinh chế các hóa chất cơ bản như KClO3, HNO3 hay diêm tiêu.

Có thể nói, hành trình hơn 6 năm trong kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang, tập thể Phòng Hóa chất - Nha Nghiên cứu Kỹ thuật từ một nhóm nhỏ các trí thức yêu nước, đã phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, đạt quy mô trên 60 người vào năm 1951, trở thành cái nôi đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt giỏi cả lý thuyết lẫn công nghệ cho đất nước. Tinh thần tự lực, tự cường, lấy trí tuệ bù đắp thiếu hụt vật chất của Phòng Hóa chất trong những năm tháng ở Việt Bắc luôn là bài học quý báu cho các thế hệ cán bộ ngành CNQP hôm nay.

NGÔ DƯƠNG - ANH PHƯƠNG

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại