Đột phá nâng cao hiệu quả nghiên cứu phát triển vũ khí công nghệ cao

7/28/2026 8:32:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 49

CNQP&KT - Trong Văn kiện Đại hội XIV, Đảng ta đã có sự phát triển mới trong tư duy lý luận về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng (CNQP); đồng thời, chỉ rõ từ "quốc phòng phục vụ phát triển" sang "quốc phòng là động lực của phát triển".

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: "Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; chú trọng tăng đầu tư hợp lý cho quốc phòng, an ninh, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao"1.

Chủ trương "đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng" trong Văn kiện Đại hội XIV có nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Việc xây dựng Quân đội hiện đại đã trở thành yêu cầu cấp bách trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng và tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường. Nâng cao năng lực quốc phòng không chỉ là sự chuẩn bị cần thiết để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà còn là yếu tố then chốt để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Quán triệt quan điểm lãnh đạo của Đảng, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn quan tâm chỉ đạo triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp tăng cường quốc phòng, trong đó đột phá về nghiên cứu khoa học, công nghệ (KHCN) phát triển CNQP. Ngành CNQP đã triển khai có hiệu quả các nghị quyết, kết luận, chương trình, kế hoạch của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, nhất là Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 26/1/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo; sắp xếp lại các doanh nghiệp quân đội nói chung, doanh nghiệp quốc phòng nòng cốt nói riêng, các cơ sở nghiên cứu KHCN, đầu tư nâng cao tiềm lực CNQP... Nhờ đó, đã nâng cao hiệu quả nghiên cứu, chế thử vũ khí mới; sản xuất thành công nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) hiện đại, công nghệ cao, có ý nghĩa chiến lược. Những kết quả đó đã được Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương ghi nhận trong phát biểu chỉ đạo tại Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030: Quân đội thực hiện tốt Nghị quyết số 08 với nhiều kết quả và thành công đột phá. CNQP đã triển khai gần 600 đề tài nghiên cứu KHCN; hoàn thành, nghiệm thu hơn 100 đề tài, tạo ra nhiều sản phẩm, chi tiết VKTBKT hiện đại; đồng thời đề xuất mở mới nhiều chương trình, đề án KHCN. Cơ bản đã làm chủ được một số công nghệ nền, công nghệ lõi, chế tạo thành công nhiều chủng loại VKTBKT tầm chiến lược. Tiêu biểu là các tổ hợp vũ khí phòng không, xe chiến đấu bộ binh, xe thiết giáp chở quân, pháo tự hành, pháo tàu, thiết bị bay không người lái (UAV) và nhiều vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại khác. Tập đoàn Công nghiệp và Viễn thông Quân đội (Viettel) là doanh nghiệp quân đội tiên phong, đang từng bước xây dựng Tổ hợp CNQP, đã nghiên cứu và sản xuất hơn 50 loại VKTBKT công nghệ cao, đưa vào trang bị phục vụ tốt nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Đồng thời, đột phá nghiên cứu, phát triển 9/11 công nghệ chiến lược quốc gia bao gồm AI, bản sao số, thực tế ảo/thực tế tăng cường, điện toán đám mây và điện toán lượng tử, dữ liệu lớn, blockchain (chuỗi khối), 5G/6G, robot và tự động hóa, chip bán dẫn, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng, hàng không vũ trụ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp quân đội cũng chú trọng đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, xúc tiến thương mại, quảng bá và xuất khẩu sản phẩm lưỡng dụng, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong đó, phải kể đến Nhà máy Z113, Z195 và Tổng công ty GAET thuộc Tổng cục CNQP đã ký kết hợp đồng xuất khẩu vật liệu nổ công nghiệp với giá trị kinh tế lớn...

UAV đa năng tầm xa VU-MALE do Tập đoàn Viettel nghiên cứu, chế tạo, trang bị vũ khí tấn công chính xác cao.    Ảnh: NAM TRẦN

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, một số lĩnh vực then chốt như động cơ phản lực, vi điện tử quốc phòng, công nghệ vật liệu đặc chủng, hệ thống điều khiển hỏa lực, công nghệ định vị, dẫn đường tiên tiến… vẫn phụ thuộc vào bên ngoài. Việc tiếp cận các công nghệ chiến lược gặp khó khăn do các rào cản chính trị, pháp lý từ các nước cung cấp. Mối liên kết giữa CNQP với công nghiệp dân dụng chưa chặt chẽ. Một số doanh nghiệp quân đội hoạt động theo mô hình khép kín, thiếu cơ chế mở để tham gia sâu vào thị trường dân sinh và quốc tế. Hiệu quả công nghiệp lưỡng dụng chưa tương xứng tiềm năng. Nhiều cơ sở lưỡng dụng mới ở giai đoạn thử nghiệm, thiếu sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Công tác phối hợp liên bộ, ngành còn lúng túng; chuỗi giá trị lưỡng dụng trong một số ngành như công nghệ hàng không, đóng tàu quân sự chưa đạt hiệu quả. Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu. Việc thu hút chuyên gia từ khu vực tư nhân và quốc tế gặp khó khăn do ràng buộc pháp lý và cơ chế đãi ngộ…

Từ những vấn đề nêu trên, để thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng về "Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại" đòi hỏi cần có nhiều giải pháp đồng bộ. Trong phạm vi bài viết xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, đột phá về nghiên cứu làm chủ các công nghệ chiến lược phát triển vũ khí công nghệ cao. Đổi mới mạnh mẽ tư duy chiến lược trong nghiên cứu, phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi (AI, Big Data, công nghệ tự động hóa...), các lĩnh vực luyện kim, cơ khí chính xác, công nghệ đúc vào thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí công nghệ cao tầm chiến lược, tăng tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm CNQP. Việc nghiên cứu, phát triển cần được triển khai theo lộ trình rõ ràng, hiệu quả...

Khu trưng bày sản phẩm của Tổng cục CNQP tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024.         Ảnh: NAM ANH

Hai là, đẩy mạnh đầu tư nguồn lực nghiên cứu, phát triển vũ khí công nghệ cao. Để nâng cao hiệu quả nghiên cứu, phát triển vũ khí công nghệ cao cần huy động nhiều nguồn lực, trong đó có đầu tư tiềm lực con người; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có cơ cấu hợp lý, chuẩn hóa về trình độ chuyên môn theo từng lĩnh vực; có năng lực, trí tuệ, tâm huyết, đam mê nghiên cứu KHCN. Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư ở những ngành đặc thù phục vụ CNQP. Cùng với đó, ưu tiên bố trí ngân sách cho KHCN, khuyến khích hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ khởi nghiệp, quỹ đổi mới sáng tạo… Nghiên cứu cơ chế cho mô hình "đầu tư công - quản trị tư", bảo đảm nhà khoa học có quyền chủ động trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho các tổ chức, các nhóm nghiên cứu chuyên sâu; bổ sung cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội về chế độ đãi ngộ, trọng dụng thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, chuyên gia đầu ngành, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư, chuyên viên kỹ thuật giỏi... Nâng cao hiệu quả huy động các nguồn lực đầu tư tạo sự đột phá về hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm VKTBKT công nghệ cao và nhiệm vụ sản xuất quốc phòng.

Ba là, đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả nghiên cứu, phát triển vũ khí công nghệ cao. Quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển KHCN phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; tháo gỡ các nút thắt, rào cản trong hoạt động KHCN và đổi mới sáng tạo, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp KHCN; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu và ứng dụng KHCN cho phát triển VKTBKT công nghệ cao, chiến lược. Đẩy nhanh việc sắp xếp lại bộ máy về KHCN, lực lượng nghiên cứu theo hướng "tinh, gọn, mạnh" gắn với xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu chuyên sâu, nhất là các chuyên gia, các nhà khoa học hàng đầu, làm nòng cốt thúc đẩy phát triển KHCN cao.

Bốn là, tăng cường liên doanh, liên kết trong và ngoài nước tạo đột phá nghiên cứu, phát triển vũ khí công nghệ cao, vũ khí chiến lược. Mở rộng hợp tác nghiên cứu KHCN với các tổ chức trong nước và quốc tế, nhất là trên các lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực KHCN chất lượng cao. Gắn hợp tác quốc tế về KHCN với các chương trình, dự án nghiên cứu, thúc đẩy chuyển giao công nghệ mới, làm chủ và phát triển các công nghệ tiên tiến ứng dụng sản xuất VKTBKT công nghệ cao, các sản phẩm lưỡng dụng. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư, xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và phát triển KHCN. Thúc đẩy nâng cao năng lực và chuyển giao công nghệ trong các thỏa thuận quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tham gia.

Xây dựng Quân đội hiện đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc là đòi hỏi khách quan, tất yếu. Do vậy, việc đột phá nghiên cứu, phát triển VKTBKT công nghệ cao cần phải được chú trọng, đẩy mạnh; trong đó, vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa chiến lược là phải làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược để tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng trong phát triển VKTBKT công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đại tá NGUYỄN ĐÌNH HOÀN*

Trung tá, ThS. LÊ QUÝ KHANG**

*Nguyên cán bộ Viện Chiến lược và Lịch sử quân sự/Bộ Quốc phòng

**Phòng Tham mưu - Hành chính (Học viện Biên phòng)

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng XIV, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, tr.36.

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại