Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi căn bản phương thức tạo lập sức mạnh quốc gia và tiềm lực CNQP. Những thành tựu đột phá về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu tiên tiến, công nghệ lượng tử, công nghệ không gian, hệ thống tự hành… đang trở thành nền tảng của các hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới. Đối với Việt Nam, yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đặt ra nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển CNQP tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, từ đó đặt ra yêu cầu phải làm chủ công nghệ chiến lược để nâng cao năng lực CNQP.
Việc làm chủ công nghệ chiến lược đối với CNQP Việt Nam là quá trình từng bước làm chủ các công nghệ nền, công nghệ lõi, trên cơ sở kết hợp hiệu quả giữa phát huy nội lực và tiếp thu có chọn lọc thành tựu khoa học, công nghệ (KHCN) tiên tiến của thế giới. Trong các yếu tố cấu thành năng lực CNQP, làm chủ công nghệ chiến lược giữ vai trò trung tâm, là yếu tố quyết định chất lượng nghiên cứu, khả năng đổi mới sáng tạo, trình độ hiện đại hóa và mức độ tự chủ của nền CNQP. Vai trò quan trọng của công nghệ chiến lược được thể hiện ở những khía cạnh cụ thể sau:
Thứ nhất, quyết định năng lực tự chủ trong nghiên cứu, thiết kế và chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT), bởi đây là yếu tố hình thành phương thức và năng lực phát triển sản phẩm. Làm chủ công nghệ chiến lược còn có ý nghĩa tạo lập năng lực tự chủ, chuyển quá trình phát triển từ tiếp thu và làm chủ công nghệ sang chủ động sáng tạo công nghệ. Đây là cơ sở nâng cao năng lực nghiên cứu, rút ngắn chu trình phát triển sản phẩm, chủ động cải tiến, hiện đại hóa VKTBKT và giảm phụ thuộc vào nguồn công nghệ bên ngoài; tạo điều kiện tích lũy tri thức, hình thành đội ngũ chuyên gia, phát triển năng lực thiết kế hệ thống và từng bước xây dựng nền tảng công nghệ quốc phòng độc lập.
Thứ hai, thúc đẩy hiện đại hóa CNQP. Làm chủ công nghệ chiến lược tạo cơ sở chuyển đổi mô hình phát triển CNQP từ chủ yếu dựa vào tiếp nhận công nghệ sang phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo, tạo động lực hình thành năng lực công nghệ nội sinh, giúp các doanh nghiệp CNQP chủ động cải tiến quy trình sản xuất, phát triển sản phẩm mới và nâng cao năng lực cạnh tranh.
.jpg)
Các trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất của Nhà máy Z117. Ảnh: LÊ ANH
Thứ ba, tạo nền tảng phát triển CNQP lưỡng dụng. Việc làm chủ công nghệ chiến lược không chỉ phục vụ nghiên cứu, sản xuất VKTBKT, mà còn tạo điều kiện chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm dân dụng có hàm lượng KHCN cao. Đây là cơ sở tăng cường gắn kết giữa phát triển CNQP và công nghiệp quốc gia, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có sự tham gia của doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và các ngành công nghiệp công nghệ cao. Phát triển theo hướng lưỡng dụng giúp mở rộng không gian phát triển của các doanh nghiệp quốc phòng, thúc đẩy quá trình tích lũy tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ tư, góp phần củng cố chủ quyền công nghệ và năng lực tự chủ chiến lược quốc gia. Đối với CNQP, chủ quyền công nghệ được thể hiện ở khả năng chủ động nghiên cứu, phát triển, sản xuất, bảo đảm kỹ thuật và cải tiến VKTBKT. Đây là nền tảng quan trọng duy trì tính liên tục của hoạt động quốc phòng, nâng cao khả năng ứng phó với các biến động của môi trường an ninh và bảo đảm độc lập, tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng chủ quyền công nghệ trong lĩnh vực quốc phòng còn tạo điều kiện nâng cao năng lực dự báo, tiếp cận và phát triển các công nghệ mới; đồng thời, hình thành năng lực cạnh tranh quốc gia trong một số lĩnh vực công nghệ chiến lược.
.jpg)
Sản xuất đạn pháo ở Nhà máy Z113. Ảnh: MẠNH CHIẾN
Hiện nay, yêu cầu xây dựng CNQP tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại trở thành vấn đề cấp thiết trong bối cảnh "xung đột, chiến tranh, chạy đua vũ trang công nghệ cao diễn ra ở nhiều khu vực, nguy hiểm hơn, không loại trừ nguy cơ chiến tranh lớn"1. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, ngành CNQP đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong nghiên cứu, làm chủ thiết kế, chế tạo một số sản phẩm quốc phòng công nghệ cao, ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị, sản xuất và từng bước phát triển các sản phẩm lưỡng dụng. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, ngành CNQP cần tiếp tục tập trung phát triển năng lực làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, nâng cao chất lượng nghiên cứu phát triển, khả năng cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị CNQP quốc tế. Để làm chủ công nghệ chiến lược đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực CNQP, cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ chiến lược trong nghiên cứu, thiết kế và chế tạo sản phẩm CNQP. Rà soát, xác định danh mục công nghệ ưu tiên theo từng giai đoạn, tập trung vào các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, điện tử, tự động hóa, công nghệ số, điều khiển, mô phỏng và công nghệ không người lái. Đổi mới phương thức tổ chức hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp CNQP làm trung tâm, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp công nghệ cao, nhằm hình thành chuỗi nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm và sản xuất đồng bộ. Hoàn thiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ gắn với kết quả làm chủ công nghệ, khả năng ứng dụng và hiệu quả sản xuất, từng bước rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và triển khai thực tiễn. Đầu tư hiện đại hóa hạ tầng nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm; xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thiết kế số, mô phỏng và kiểm định, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển sản phẩm công nghệ cao.
Hai là, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện hạ tầng số, các nền tảng dữ liệu dùng chung, hệ thống quản trị số và môi trường nghiên cứu số, từng bước hình thành mô hình nhà máy thông minh, sản xuất thông minh và quản trị thông minh. Chú trọng xây dựng nguồn nhân lực số có trình độ chuyên môn cao; đồng thời, bảo đảm an toàn, an ninh mạng và an ninh dữ liệu.
Ba là, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thúc đẩy CNQP lưỡng dụng theo hướng tăng cường liên kết giữa CNQP với công nghiệp quốc gia, tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, chuyển giao, làm chủ công nghệ, phục vụ đồng thời nhiệm vụ quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp CNQP, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp công nghệ cao nhằm hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo thống nhất, phát huy hiệu quả nguồn lực KHCN và hạ tầng nghiên cứu. Đẩy mạnh cơ chế đặt hàng nghiên cứu, hợp tác phát triển công nghệ, liên doanh, liên kết sản xuất và chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp trong và ngoài Quân đội. Khuyến khích doanh nghiệp CNQP tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp quốc gia; đồng thời, tạo điều kiện để các doanh nghiệp dân sự có năng lực công nghệ tham gia nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm và linh kiện lưỡng dụng. Tăng cường đầu tư xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm trọng điểm, cơ sở thử nghiệm và nền tảng chia sẻ dữ liệu, phục vụ hoạt động nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ cao.
Bốn là, hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển công nghệ chiến lược, củng cố chủ quyền công nghệ và năng lực tự chủ chiến lược quốc gia theo hướng đồng bộ, ổn định, có tính dài hạn, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và làm chủ công nghệ. Tập trung rà soát, hoàn thiện chính sách về đầu tư, tài chính, KHCN, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, bảo đảm an ninh công nghệ và bảo vệ bí mật quốc phòng. Đổi mới cơ chế quản lý các chương trình, nhiệm vụ KHCN theo hướng ưu tiên các nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược, công nghệ nền tảng, có khả năng tạo đột phá về năng lực sản xuất và bảo đảm trang bị kỹ thuật. Xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp CNQP chủ động đầu tư nghiên cứu, đổi mới công nghệ, tích lũy năng lực thiết kế, chế tạo, hình thành chuỗi cung ứng công nghệ trong nước. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế có chọn lọc, kết hợp giữa tiếp nhận công nghệ tiên tiến với yêu cầu làm chủ, nội địa hóa và phát triển công nghệ trong nước.
Làm chủ công nghệ chiến lược là yêu cầu khách quan, giữ vai trò quyết định trong nâng cao năng lực tự chủ, hiện đại hóa và phát triển bền vững CNQP Việt Nam. Trong bối cảnh KHCN phát triển nhanh, CNQP cần phải đẩy mạnh nghiên cứu, sáng tạo và làm chủ công nghệ, tạo nền tảng nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, bảo đảm kỹ thuật và phát triển sản phẩm quốc phòng. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng nền CNQP tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, góp phần củng cố tiềm lực quốc phòng và năng lực tự chủ chiến lược của đất nước.
Trung tá, TS. NGUYỄN QUANG BÌNH*
Thượng tá, TS. NGUYỄN ĐÌNH NAM**
* Trường Sĩ quan Chính trị/Bộ Quốc phòng
** Trường Sĩ quan Lục quân 1/Bộ Quốc phòng
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.