Mô hình phát triển đất nước gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh trong kỷ nguyên mới

10/4/2026 5:56:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 47

CNQP&KT - Hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ về quy mô tăng trưởng, mà còn về chiều sâu nội lực, năng lực công nghệ và khả năng tự chủ chiến lược. Quốc gia có "chiều sâu" sẽ có khả năng chống chịu, thích ứng và phát triển ổn định. Trên cơ sở phân tích vai trò của nền sản xuất trong nước đối với tăng trưởng bền vững trong dài hạn, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước, bài viết đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm xây dựng mô hình phát triển đất nước theo chiều sâu trong kỷ nguyên mới.

Chiều sâu phát triển là phạm trù phản ánh trình độ tích lũy nội lực và khả năng tự chủ chiến lược của quốc gia trong điều kiện toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Về thực chất, phát triển theo chiều sâu là quá trình nâng cao chất lượng nội lực quốc gia thông qua tích lũy công nghệ, phát triển năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường khả năng tự chủ chiến lược. Nó được cấu thành bởi 3 lớp năng lực có quan hệ hữu cơ với nhau: năng lực nội sinh của nền kinh tế, thể hiện ở trình độ công nghệ, năng lực sản xuất và chất lượng nguồn nhân lực; khả năng chống chịu và thích ứng với các cú sốc bên ngoài; mức độ gắn kết giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh (QP, AN).

Trong đó, nền sản xuất trong nước vững mạnh là yếu tố then chốt quyết định sức mạnh và sự thịnh vượng của một quốc gia. Đây không chỉ là động lực trung tâm của quá trình công nghiệp hóa, mà còn là nền tảng bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao năng lực công nghệ, tăng vị thế cạnh tranh quốc tế và củng cố QP, AN. Ở góc độ quốc phòng, nền sản xuất giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì đây là cơ sở vật chất của tiềm lực quốc gia. Một nền công nghiệp phát triển không chỉ tạo ra của cải mà còn cung cấp hạ tầng, công nghệ và năng lực sản xuất cần thiết để bảo đảm QP, AN trong mọi tình huống. Khả năng duy trì và mở rộng sản xuất trong các ngành then chốt như cơ khí, vật liệu, năng lượng, điện tử hay công nghệ số là điều kiện để quốc gia chủ động về QP, AN, nâng cao khả năng phòng vệ trong môi trường tác chiến mới. Các quốc gia có nền công nghiệp mạnh thường có khả năng duy trì sức mạnh quân sự và sức chống chịu tốt hơn trong khủng hoảng hoặc xung đột kéo dài.

Kỹ sư Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội nghiên cứu chế tạo hệ thống thiết bị công nghệ 5G.   Ảnh: QUỲNH NGUYỄN

Như vậy, nền sản xuất chính là "dự trữ chiến lược" của quốc gia. Một nền sản xuất mạnh không chỉ bảo đảm an ninh kinh tế thông qua duy trì việc làm, an ninh năng lượng… mà còn tạo điều kiện chuyển hóa tiềm lực kinh tế thành sức mạnh quốc phòng khi cần thiết. Tuy nhiên, trong điều kiện công nghệ phát triển rất nhanh, năng lực sản xuất sẽ ngày càng phụ thuộc vào khả năng hấp thụ và làm chủ khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Điều đó đặt ra yêu cầu phải chuyển từ nền sản xuất theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên công nghệ và tri thức.

Hiện nay, KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là "đột phá quan trọng hàng đầu", giữ vai trò phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Đây là nhân tố quyết định chiều sâu phát triển của quốc gia, trong đó nền sản xuất giữ vai trò là môi trường hấp thụ, chuyển hóa và khuếch đại công nghệ. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, công nghệ là yếu tố quyết định tăng trưởng dài hạn; công nghiệp hóa chỉ có thể diễn ra trên nền tảng đổi mới công nghệ; quốc gia làm chủ công nghệ sẽ nắm giữ các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Không những thế, đặc điểm quan trọng của nền sản xuất hiện đại là càng phát triển càng phụ thuộc vào KHCN và nguồn nhân lực chất lượng cao. Cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu buộc các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới quy trình sản xuất, nâng cao năng suất, cải tiến chất lượng và ứng dụng công nghệ mới. Điều này tạo ra nhu cầu lớn đối với giáo dục, nghiên cứu ứng dụng và đầu tư cho nghiên cứu - phát triển (R&D). Do vậy, để xây dựng chiều sâu phát triển quốc gia trong bối cảnh mới, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, xây dựng nền sản xuất quốc gia hiện đại và tự chủ, tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và năng lực sản xuất trong nước.

Thứ hai, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, thúc đẩy liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và thị trường nhằm tăng cường năng lực chuyển giao và thương mại hóa công nghệ.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, xây dựng hạ tầng số hiện đại, phát triển dữ liệu quốc gia, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa và các công nghệ số mới nhằm nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.

Thứ tư, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố QP, AN; phát triển công nghiệp lưỡng dụng và xây dựng năng lực sản xuất có khả năng chuyển đổi linh hoạt giữa thời bình và thời chiến.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực công nghệ cao, nhân lực số và đội ngũ chuyên gia KHCN phục vụ nền sản xuất hiện đại và quốc phòng công nghệ cao.

Để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trên, cần triển khai đồng bộ các giải pháp chiến lược sau:

Một là, đổi mới tư duy phát triển, chuyển mạnh từ tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài sang nâng cao năng lực tự chủ chiến lược. Doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu, dự báo nhu cầu thị trường, xác định đúng sản phẩm chiến lược và đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Đồng thời, đẩy mạnh tái cấu trúc, nâng cao hiệu quả quản trị, tối ưu hóa nguồn lực, kiểm soát chi phí dựa trên công nghệ, chất lượng và thương hiệu. Qua đó, hình thành các doanh nghiệp "sếu đầu đàn" có khả năng dẫn dắt hệ sinh thái sản xuất trong nước.

Hai là, xây dựng chính sách công nghệ quốc gia, ưu tiên công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và công nghệ lưỡng dụng. Cần chuyển mạnh từ tiếp nhận, mua sắm công nghệ sang chủ động nghiên cứu, làm chủ, cải tiến và từng bước sáng tạo công nghệ. Tăng đầu tư cho R&D, hình thành các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với nhu cầu thực tiễn. Đặc biệt, tập trung vào những lĩnh vực có tính chiến lược như AI, tự động hóa, vật liệu mới, công nghệ số, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng và các công nghệ lưỡng dụng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và QP, AN.

Ba là, phát triển kinh tế xanh và bền vững, thúc đẩy công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và mô hình tăng trưởng carbon thấp. Thúc đẩy chuyển đổi công nghệ theo hướng tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả nguyên vật liệu, giảm phát thải và nâng cao khả năng tái chế, tái sử dụng. Khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm, tái sử dụng chất thải làm nguyên liệu đầu vào và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế có chọn lọc, chủ động tiếp thu tri thức và công nghệ tiên tiến; đồng thời giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong các lĩnh vực chiến lược, đặc biệt trong lĩnh vực QP, AN. Tận dụng hiệu quả các nguồn lực, tránh phụ thuộc vào một đối tác, thị trường hoặc nguồn cung duy nhất. Chủ động học hỏi, tiếp nhận, làm chủ và từng bước sáng tạo trên nền tảng công nghệ được chuyển giao.

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, trọng tâm là phát triển nền sản xuất hiện đại, gắn kết giữa phát triển kinh tế với củng cố QP, AN. Qua đó, hình thành một vòng tuần hoàn chiến lược, tạo nên sức mạnh tổng hợp và khả năng tự chủ bền vững của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

TS. LÊ MINH QUÂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Báo cáo phát triển công nghiệp, Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc, 2016.

2. Mary Hallward - Driemeier và Gaurav Nayyar, Sản xuất, tương lai của sự phát triển, Ngân hàng Thế giới, 2018.

3. Lê Văn Long, Nền sản xuất công nghiệp - mục tiêu công nghiệp hóa bảo đảm quốc phòng và an ninh kinh tế, https://tapchicongsan.org.vn.

4. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

5. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

6. Vai trò của ngành sản xuất trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, https://lyluanchinhtri.vn.

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại