Một góc nhìn về đổi mới sáng tạo trong ngành công nghiệp quốc phòng

10/4/2026 5:58:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 34

CNQP&KT - Đối với ngành công nghiệp quốc phòng (CNQP), đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yếu tố quyết định khả năng làm chủ công nghệ, khẳng định năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Thực tiễn cho thấy, những quốc gia phát triển đều đặc biệt coi trọng xây dựng hệ sinh thái ĐMST, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và nhu cầu thực tiễn của quân đội. Bài viết làm rõ khái niệm, nội dung ĐMST trong ngành CNQP và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả ĐMST, đáp ứng yêu cầu phát triển CNQP trong tình hình mới.

KHÁI NIỆM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Theo Điều 3 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025, ĐMST là hoạt động tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới, quy trình mới, mô hình kinh doanh mới hoặc cải tiến đáng kể so với sản phẩm, dịch vụ, quy trình, mô hình kinh doanh đã có. ĐMST là bước hiện thực hóa các ý tưởng thành sản phẩm, dịch vụ, hoặc quy trình thực tế mang lại lợi ích, được thị trường và xã hội chấp nhận. Nói cách khác, sáng tạo là nghĩ ra cái mới, còn ĐMST là làm ra cái mới và đưa vào ứng dụng thành công.

Theo Cẩm nang Oslo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), ĐMST thường được chia thành 4 dạng chính, gồm: đổi mới sản phẩm/dịch vụ (cải tiến hoặc tạo ra sản phẩm hoàn toàn mới đáp ứng nhu cầu của người dùng); đổi mới quy trình (cải tiến cách thức sản xuất, vận hành để giảm chi phí, tăng năng suất); đổi mới phương pháp marketing (tìm ra cách tiếp cận thị trường, định giá hoặc đóng gói sản phẩm mới mẻ, thu hút hơn); đổi mới tổ chức (áp dụng các mô hình quản lý mới, cấu trúc lại doanh nghiệp để làm việc hiệu quả hơn).

Sử dụng thiết bị hiện đại kiểm tra chất lượng sản phẩm quốc phòng ở Nhà máy Z129 (Tổng cục CNQP).  Ảnh: TRẦN HOÀNG

Trong bối cảnh hiện nay, ĐMST là yếu tố then chốt giúp các doanh nghiệp duy trì lợi thế cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh tế và thích ứng với sự thay đổi của công nghệ. Ở tầm vĩ mô, đây là động lực cốt lõi thúc đẩy phát triển trên nền tảng khoa học và công nghệ (KHCN). Đến nay, cả nước đã thành lập 37 trung tâm ĐMST, gồm Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và các trung tâm tại các tỉnh, thành, một số trường đại học. Hầu hết các trung tâm đều là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ về tài chính. Riêng Trung tâm đổi mới sáng tạo của thành phố Hà Nội là công ty cổ phần; trong đó, UBND thành phố Hà Nội sở hữu 70% cổ phần, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 15% và Tập đoàn công nghệ CMC 15%. Chức năng chính của các trung tâm ĐMST gồm: kết nối (nhà quản lý, nhà khoa học, nhà đầu tư, nhà sản xuất); hỗ trợ (khởi nghiệp, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ); dịch vụ (môi giới mua bán công nghệ; dịch vụ đào tạo, cung cấp nhân lực, chuyên gia, giới thiệu sản phẩm).

ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG NGÀNH CNQP

ĐMST trong ngành CNQP là việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để tạo ra sản phẩm mới hoặc nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm và bảo đảm an toàn cho sản xuất CNQP. Theo khái niệm và các quy định của pháp luật hiện hành, nội dung ĐMST trong ngành CNQP gồm 2 nhóm công việc chính, đó là:

Thứ nhất, công tác sáng kiến, cải tiến kỹ thuật (SKCTKT) tại các cơ sở CNQP.

Công tác SKCTKT trong ngành CNQP do các cơ sở CNQP tự triển khai thực hiện dưới sự chỉ đạo của cơ quan kỹ thuật, công nghệ và cơ quan chính trị các cấp. Nội dung chính là khuyến khích cán bộ, nhân viên, người lao động đề xuất và thực hiện các SKCTKT, cải tiến công tác quản lý nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và bảo đảm an toàn trong sản xuất. Hiện nay, công tác SKCTKT trong ngành CNQP ngày càng được đổi mới, trở thành phong trào sâu rộng, đạt kết quả thiết thực. Tổng cục CNQP luôn là đơn vị dẫn đầu toàn quân về số lượng, chất lượng các công trình, đề tài, sáng kiến đạt Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội, Giải thưởng Lao động sáng tạo trong Công đoàn Quân đội...

Gian trưng bày của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội tại Ngày hội Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024.   Ảnh: CTV

Thứ hai, kết nối, hỗ trợ phát triển, mua bán công nghệ mới, sản phẩm mới.

Kết nối nhà quản lý (cơ quan), nhà sản xuất (nhà máy, doanh nghiệp) với nhà khoa học (viện nghiên cứu, trường đại học) trong và ngoài Quân đội để đặt hàng nghiên cứu giải quyết các nhu cầu của nhà quản lý, nhà sản xuất; kết nối nhà nghiên cứu trong Quân đội với nhà khoa học trong và ngoài nước để đặt hàng nghiên cứu một số nội dung nhiệm vụ KHCN; kết nối nhà nghiên cứu, nhà sản xuất trong và ngoài Quân đội để ứng dụng công nghệ lưỡng dụng sản xuất sản phẩm phục vụ dân sinh…

Hỗ trợ phát triển công nghệ mới, sản phẩm mới gồm hỗ trợ thử nghiệm công nghệ và sản phẩm mới do các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất để đưa vào Quân đội sử dụng; tổng hợp, mã hóa nhu cầu phát triển công nghệ mới phục vụ quốc phòng; tìm kiếm, lựa chọn các tổ chức, cá nhân trong và ngoài Quân đội để tài trợ, triển khai các nhiệm vụ KHCN về nghiên cứu, phát triển các công nghệ mới phục vụ quốc phòng; hỗ trợ các cơ sở CNQP đào tạo nhân lực, mời chuyên gia phát triển công nghệ và sản phẩm mới.

Hỗ trợ mua bán công nghệ, sản phẩm mới gồm trưng bày, giới thiệu các sản phẩm, công nghệ lõi của CNQP tại các triển lãm quốc phòng và trên các trang thông tin trực tuyến phù hợp; tiếp nhận nội dung giới thiệu về công nghệ, sản phẩm mới có tiềm năng ứng dụng trong ngành CNQP; hỗ trợ cơ quan quản lý, cơ sở CNQP gặp gỡ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài Quân đội trao đổi, ký kết các hợp đồng mua bán công nghệ, sản phẩm đáp ứng nhu cầu của các bên.

Đối với nhóm thứ hai, ngành CNQP nước ta bước đầu đã và đang triển khai các nội dung về kết nối, hỗ trợ phát triển, mua bán công nghệ, sản phẩm CNQP, như: phối hợp với Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, Đại học Bách khoa Hà Nội… triển khai một số đề tài nghiên cứu về vật liệu mới, chế tạo một số bộ phận của vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT); tổ chức và tham gia các cuộc Triển lãm Quốc phòng Quốc tế. Tuy nhiên, nội dung và kết quả vẫn còn khiêm tốn, còn rất nhiêu dư địa để đổi mới và phát triển.

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG CNQP

Từ các khái niệm, nội dung nêu trên, đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác ĐMST trong ngành CNQP như sau:

Một là, nâng cao nhận thức về ĐMST. Tăng cường quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số. Khắc phục tư duy ngại đổi mới, tâm lý thụ động, trông chờ, ỷ lại; xây dựng nhận thức thống nhất rằng ĐMST không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan nghiên cứu hay đội ngũ cán bộ khoa học mà là trách nhiệm của mọi cơ quan, đơn vị, cán bộ, kỹ sư, người lao động trong toàn ngành. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng văn hóa ĐMST, khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, chủ động đề xuất SKCTKT, ứng dụng công nghệ mới vào nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sản xuất các sản phẩm quốc phòng.

Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách để đưa các công nghệ quốc gia và thế giới vào các cơ sở CNQP và ngược lại. Sau khi Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp cùng với các nghị định của Chính phủ được ban hành và triển khai, về cơ bản đã có đủ hành lang pháp lý. Tuy nhiên, còn một số lĩnh vực cần rà soát, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật như: Quy định về mã hóa công nghệ quân sự để huy động tiềm lực KHCN quốc gia tham gia nghiên cứu, phát triển, chuyển giao cho các cơ sở CNQP hoặc chuyển giao từ các cơ sở CNQP cho các cơ sở dân sinh để sản xuất sản phẩm dân sinh; Quy định về sở hữu trí tuệ đối với các công nghệ quân sự do các cơ sở dân sự chuyển giao cho các cơ sở CNQP để sản xuất VKTBKT. Trước mắt, cần sớm ban hành Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về định mức phí sử dụng kết quả nhiệm vụ KHCN để sản xuất sản phẩm quốc phòng.

Ba là, thành lập trung tâm ĐMST ngành CNQP nhằm mở ra "cánh cửa" để CNQP tiếp xúc trực tiếp với tiềm lực KHCN quốc gia theo cơ chế thị trường có kiểm soát. Các nhu cầu của CNQP về nghiên cứu phát triển công nghệ mới, sản phẩm mới sẽ được các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nước tiếp cận, tham gia hoặc chủ động đầu tư thực hiện để chuyển giao công nghệ hoặc bán một số bộ phận của sản phẩm cho cơ sở CNQP.

Bốn là, sớm hình thành Quỹ CNQP và Quỹ đầu tư mạo hiểm. Đây là nguồn lực quan trọng tài trợ cho các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài Quân đội nghiên cứu phát triển công nghệ mới, công nghệ chiến lược; tài trợ thử nghiệm có kiểm soát các công nghệ do các tổ chức, cá nhân ngoài Quân đội nghiên cứu thành công để chuyển giao cho các cơ sở CNQP.

ĐMST là khái niệm không mới, nhưng nội dung, giải pháp triển khai luôn được bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển. Đặc biệt trong bối cảnh mới, ĐMST không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động KHCN, mà còn là yếu tố quyết định năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và làm chủ các công nghệ lõi. Đây chính là động lực thúc đẩy CNQP phát triển theo hướng tự chủ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội, đồng hành với sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thiếu tướng, TS. ĐÀO XUÂN NGHIỆP

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại