Nâng tầm hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng

9/2/2026 4:13:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 73

CNQP&KT - Tháng 12/2022, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc khi nâng cấp lên quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện". Đây là yếu tố cốt lõi thúc đẩy hợp tác công nghiệp quốc phòng (CNQP) giữa hai nước lên tầm cao mới. Sau gần 4 năm, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những thách thức trong hợp tác CNQP Việt Nam - Hàn Quốc cần được tháo gỡ.

Thời gian qua, cạnh tranh chiến lược tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương  có nhiều biến động phức tạp; tranh chấp chủ quyền trên biển, sự xuất hiện các thách thức an ninh phi truyền thống đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các quốc gia trong việc nâng cao năng lực tự chủ quốc phòng và hiện đại hóa quân đội. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chủ trương: "Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại". Từ định hướng đó, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và hiện đại hóa Quân đội đòi hỏi Việt Nam phải phát triển CNQP theo hướng tự chủ, hiện đại và có khả năng tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Không những thế, hợp tác quốc tế về CNQP còn góp phần tăng cường năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo và cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật trong nước, từng bước nâng cao khả năng tự chủ về khoa học, kỹ thuật quân sự, giảm phụ thuộc vào bên ngoài, tạo nền tảng quan trọng để xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn mới.

Thực tế, Việt Nam đã và đang thúc đẩy đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc phòng với các đối tác nhằm tránh phụ thuộc vào một nguồn cung duy nhất; đồng thời, tận dụng cơ hội chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và hợp tác sản xuất trang thiết bị quân sự. Trong chiến lược đó, Hàn Quốc là một trong những đối tác phù hợp nhờ sở hữu nền CNQP phát triển, có khả năng sản xuất nhiều loại vũ khí, trang thiết bị hiện đại với chi phí cạnh tranh; có kinh nghiệm hợp tác quốc phòng với nhiều quốc gia đang phát triển. Những năm gần đây, Hàn Quốc nổi lên là một trong những nhà xuất khẩu vũ khí lớn trên thế giới, với nhiều tập đoàn quốc phòng có năng lực cạnh tranh cao trong các lĩnh vực đóng tàu quân sự, xe tăng, pháo tự hành, máy bay huấn luyện và công nghệ điện tử quân sự. Việt Nam với vị trí địa chiến lược quan trọng tại Đông Nam Á cùng yêu cầu hiện đại hóa quốc phòng ngày càng lớn, cũng là một đối tác tiềm năng trong chiến lược hợp tác quốc phòng của Hàn Quốc. Trong khuôn khổ quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" Việt Nam và Hàn Quốc đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là CNQP.

Thiếu tướng Lê Quang Tuyến, Phó Chủ nhiệm Tổng cục CNQP trao đổi với đối tác đến từ Hàn Quốc tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024.         Ảnh: MINH TUẤN

Trong tuyên bố chung Việt Nam - Hàn Quốc về quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện đã xác định tăng cường hợp tác chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh và trị an. Hai bên nhất trí đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác; tăng cường trao đổi đoàn bao gồm cả đối thoại chiến lược quốc phòng cấp thứ trưởng; hợp tác an ninh hàng hải, công nghệ, CNQP, giáo dục, đào tạo, qua đó góp phần làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác chung giữa hai nước, đóng góp vào hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và trên thế giới. Cụ thể hợp tác về quốc phòng giữa hai nước thể hiện qua một số nội dung sau:

Thứ nhất, duy trì thường xuyên hoạt động đối thoại và ký kết chiến lược. Các cuộc đối thoại chính sách quốc phòng được tổ chức luân phiên và thường niên giữa hai quốc gia. Từ năm 2022 đến nay, hoạt động này tiến hành sâu rộng, thực chất hơn. Đến nay, Bộ Quốc phòng hai nước đã ký 23 văn bản ghi nhớ, hợp tác, như: Thỏa thuận giữa Quân chủng Hải quân (Bộ Quốc phòng Việt Nam) và Cục Quản lý Hậu cần (Bộ Quốc phòng Hàn Quốc); Bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc; Bản ghi nhớ về triển khai Tham vấn Không quân giữa hai nước; Bản ghi nhớ giữa Học viện Kỹ thuật quân sự (Bộ Quốc phòng Việt Nam) và Đại học Hàng không vũ trụ Hàn Quốc về thúc đẩy hợp tác trong nghiên cứu, trao đổi sinh viên và chuyên gia...

 

Pháo tự hành K9 Thunder do Cơ quan Phát triển Quốc phòng Hàn Quốc (ADD) nghiên cứu phát triển.  Ảnh: Internet

Thứ hai, triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác. Trên cơ sở các văn bản thỏa thuận, hai bên đã tiến hành hợp tác và trao đổi sâu rộng hơn trên nhiều lĩnh vực. Hải quân hai nước triển khai cơ chế Tham vấn Hải quân 2 năm/lần. Thiết lập cơ chế Tham vấn Không quân để thúc đẩy hợp tác giữa Không quân hai nước. Bên cạnh đó là hợp tác giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng bảo vệ bờ biển Hàn Quốc: Tổ chức hội nghị song phương thường niên; triển khai các cuộc thăm và làm việc; chương trình xây dựng năng lực, hội nghị, hội thảo...

Thứ ba, tích cực hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực. Hàn Quốc đã hỗ trợ đào tạo cán bộ quân sự Việt Nam thông qua các chương trình học bổng, khóa đào tạo ngắn hạn và các hoạt động trao đổi chuyên môn. Hiện có hàng chục học viên quân sự Việt Nam đang học tập dài hạn tại các trường tại Hàn Quốc. Từ tháng 11/2024 đến nay, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã cử thêm hàng chục lượt cán bộ, học viên tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện chuyên sâu tại Hàn Quốc. 

Thứ tư, tăng cường trao đổi, hợp tác về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Phía Hàn Quốc đã tổ chức các khóa học ngắn hạn đào tạo chuyên gia tác chiến không gian mạng, trí tuệ nhân tạo cho Việt Nam. Hai nước cũng tăng cường hợp tác về công nghệ tự động hóa, giám sát biển và kiểm soát biên giới; các hệ thống máy bay không người lái (UAV), thiết bị giám sát từ xa và cảm biến thông minh... Đây được xem là những hướng hợp tác chiến lược, góp phần nâng cao năng lực CNQP và củng cố quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian tới.

Có thể thấy, so với giai đoạn trước, hợp tác quốc phòng cũng như hợp tác CNQP giữa Việt Nam và Hàn Quốc ngày càng chặt chẽ và sâu rộng hơn, góp phần tích cực vào quá trình hiện đại hóa lực lượng vũ trang Việt Nam thông qua việc tiếp nhận tàu tuần tra, thiết bị điện tử quốc phòng, công nghệ giám sát biển và các chương trình hỗ trợ kỹ thuật; giúp Việt Nam nâng cao năng lực bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Hợp tác về CNQP với Việt Nam cũng giúp Hàn Quốc đẩy mạnh mối quan hệ và sức ảnh hưởng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong bối cảnh thế giới nhiều biến động. Quan hệ hợp tác CNQP cũng phù hợp với chính sách đối ngoại của hai quốc gia, giúp mối quan hệ hợp tác đi vào thực chất hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hợp tác CNQP giữa hai nước vẫn còn tồn tại một số hạn chế, đó là: mức độ hợp tác về CNQP còn khiêm tốn so với các lĩnh vực truyền thống trong quan hệ hai nước; năng lực CNQP Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá lớn so với trình độ công nghệ của Hàn Quốc, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận, làm chủ và nội địa hóa công nghệ chuyển giao. Ngoài ra, hợp tác CNQP còn chịu tác động từ các yếu tố địa chính trị và môi trường an ninh quốc tế; xu hướng kiểm soát xuất khẩu công nghệ quân sự và các quy định về bảo mật quốc phòng. Đồng thời, sự khác biệt về cơ chế quản lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình pháp lý giữa hai nước cũng đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ hợp tác...

Thực tế cho thấy, hợp tác CNQP giữa Việt Nam và Hàn Quốc còn nhiều dư địa phát triển, đáp ứng nhu cầu cũng như lợi ích của cả hai bên. Về phía Việt Nam, hợp tác với Hàn Quốc nên được xem là một bộ phận trong chiến lược tổng thể nhằm mở rộng mạng lưới hợp tác quốc phòng với nhiều quốc gia có trình độ công nghệ cao. Quá trình hợp tác, đẩy mạnh tiếp nhận và làm chủ công nghệ, chuyển đổi số và tham gia chuỗi cung ứng CNQP; thúc đẩy các dự án liên doanh, liên kết sản xuất và chuyển giao công nghệ có chiều sâu nhằm từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu - sản xuất trong nước. Cùng với đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường đào tạo kỹ sư, chuyên gia công nghệ quốc phòng, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo và công nghệ không người lái nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến tranh công nghệ cao. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển CNQP với phát triển công nghiệp dân sự công nghệ cao theo hướng lưỡng dụng.

 Có thể khẳng định, kể từ khi nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện, hợp tác CNQP giữa Việt Nam và Hàn Quốc đạt được nhiều thành tựu. Sự hợp tác này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế - kỹ thuật mà còn phản ánh sự gia tăng mức độ tin cậy chiến lược và lợi ích song phương giữa hai quốc gia, góp phần nâng cao năng lực quốc phòng và đóng góp vào hòa bình, ổn định tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

ThS. TRẦN THỊ THƠM    

Trường Đại học Ngoại thương

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

2. Vũ Lê Thái Hoàng (2020), Ngoại giao chuyên biệt - Hướng đi ưu tiên mới của ngoại giao Việt Nam đến năm 2030, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Trọng Khang, Tăng trưởng kinh tế và chiến tranh, Viện nghiên cứu Chiến lược Phương Đông, https://ordi.vn.

4. Báo điện tử Chính phủ, Tuyên bố chung Việt Nam - Hàn Quốc về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, https://baochinhphu.vn.

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại