Phát huy tiềm lực khoa học, công nghệ trong phát triển công nghiệp quốc phòng

9/2/2026 4:28:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 97

CNQP&KT - Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ (KHCN), đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tiến hành chiến tranh và cấu trúc sức mạnh quân sự. Trong bối cảnh đó, năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo và sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật phụ thuộc trực tiếp vào tiềm lực KHCN của mỗi quốc gia; đặt ra những yêu cầu mới đối với phát triển nền Công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Tiềm lực KHCN đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp quốc phòng (CNQP), là tổng hợp của các yếu tố như nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực nghiên cứu, hệ thống đổi mới sáng tạo đối với quá trình xây dựng, hiện đại hóa và nâng cao năng lực tự chủ của CNQP; thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất, năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, cải tiến, cải hoán, hiện đại hóa và kéo dài niên hạn sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) quân sự. Đây là lĩnh vực trung tâm, phản ánh trực tiếp trình độ phát triển của CNQP. Khi năng lực nghiên cứu thiết kế được nâng lên, CNQP có thể chủ động phát triển các sản phẩm phù hợp với yêu cầu tác chiến, từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài. Đồng thời, năng lực sản xuất, sửa chữa và nâng cấp trang bị được cải thiện, góp phần duy trì hệ số kỹ thuật, nâng cao hiệu quả khai thác và tiết kiệm nguồn lực.

Xe thiết giáp chở quân XTC-02 do Tổng cục CNQP nghiên cứu chế tạo.   Ảnh: MINH TUẤN

Thứ hai, trình độ hiện đại hóa công nghệ và đổi mới dây chuyền sản xuất quốc phòng. Yếu tố này quyết định trực tiếp đến năng suất, chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm quốc phòng. Ứng dụng các thành tựu KHCN cho phép từng bước thay thế thiết bị lạc hậu, nâng cao mức độ tự động hóa, số hóa và độ chính xác trong sản xuất. Đổi mới công nghệ góp phần tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí, rút ngắn thời gian sản xuất, nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu tác chiến ngày càng cao. Đây là điều kiện quan trọng để CNQP chuyển từ phương thức sản xuất truyền thống sang sản xuất hiện đại, từng bước tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến.

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực KHCN giữ vai trò quyết định đối với khả năng làm chủ và phát triển công nghệ. Đây là lực lượng trực tiếp tham gia nghiên cứu thiết kế, sản xuất và cải tiến VKTBKT, là chủ thể chuyển hóa các thành tựu khoa học thành năng lực sản xuất thực tế. Do đó, phát huy tiềm lực không chỉ ở đầu tư cơ sở vật chất mà phải gắn với xây dựng môi trường thuận lợi cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao và tư duy công nghệ hiện đại. Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, đội ngũ này từng bước nâng cao năng lực chuyên môn, làm chủ công nghệ và xử lý các vấn đề phức tạp.

Thứ tư, tạo cơ sở cho phát triển CNQP theo hướng lưỡng dụng, gắn kết chặt chẽ giữa quốc phòng và kinh tế. Khả năng ứng dụng rộng rãi của công nghệ hiện đại cho phép nhiều sản phẩm và dây chuyền sản xuất được sử dụng cho cả mục đích quân sự và dân dụng, từ đó nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực. Sự kết hợp này mở rộng quy mô sản xuất, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, lan tỏa tri thức và đưa thành tựu kỹ thuật vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Thứ năm, cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chiến lược, quy hoạch và định hướng phát triển CNQP. Trong bối cảnh KHCN quân sự biến đổi nhanh, việc nhận diện đúng xu hướng phát triển, đánh giá chính xác năng lực của hệ thống sản xuất và lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên trở thành vấn đề có ý nghĩa quyết định. Tiềm lực KHCN giữ vai trò nền tảng tri thức trong quá trình này, bảo đảm cho việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển có trọng tâm, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Nguồn lực được phân bổ hợp lý hơn, hạn chế dàn trải, nâng cao tính khả thi trong tổ chức thực hiện.

Kỹ sư Viện Hàng không vũ trụ Viettel nghiên cứu phát triển hệ thống tổ hợp thiết bị quân sự công nghệ cao.  Ảnh: HIỀN MINH

Thực tiễn phát triển CNQP Việt Nam thời gian qua cho thấy, tiềm lực KHCN từng bước được củng cố, phát huy, giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nâng cao năng lực nội sinh và khả năng tự chủ của CNQP. Những năm gần đây, hơn 80% VKTBKT đưa vào sử dụng trong Quân đội là từ kết quả các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu của đội ngũ khoa học trong nước; nhiều đơn vị CNQP đã làm chủ thiết kế, công nghệ nền, công nghệ lõi chế tạo một số chủng loại vũ khí công nghệ cao và vật tư kỹ thuật. Trình độ công nghệ sản xuất được nâng lên; đội ngũ cán bộ, kỹ sư không ngừng phát triển; hoạt động hợp tác, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ quân sự tiếp tục được mở rộng; cơ chế quản lý KHCN được đổi mới phù hợp.

Tuy nhiên, tiềm lực KHCN trong CNQP vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò là động lực trung tâm của phát triển, còn bộc lộ những hạn chế, như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đánh giá: "Khả năng nghiên cứu, chế tạo, sản xuất và khai thác, làm chủ vũ khí trang bị mới, công nghệ cao có mặt còn hạn chế, nhất là trong việc làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi". Tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm phức tạp còn thấp; năng lực nghiên cứu thiết kế và tích hợp hệ thống tuy đã được nâng lên nhưng chưa tạo ra các sản phẩm có tính dẫn dắt. Mặt khác, đội ngũ chuyên gia đầu ngành, tổng công trình sư và nhà khoa học trình độ cao trong các lĩnh vực mũi nhọn còn mỏng; cơ chế trọng dụng nhân tài chưa tạo được động lực đủ mạnh…

Trong thời gian tới, để tạo chuyển biến đột phá trong phát huy tiềm lực KHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển CNQP tự chủ, hiện đại trong tình hình mới, đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội. Trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý KHCN từ hành chính hóa sang quản trị theo kết quả, gắn nghiên cứu với sản phẩm và khả năng ứng dụng trong sản xuất quốc phòng. Cơ chế đặt hàng, đấu thầu cần thực hiện theo yêu cầu phát triển VKTBKT, gắn với cơ chế đánh giá hiệu quả sau ứng dụng và trách nhiệm của tổ chức chủ trì đối với kết quả đầu ra. Hoàn thiện cơ chế tài chính tập trung, linh hoạt, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu công nghệ cao; ưu tiên nguồn lực cho công nghệ nền, công nghệ lõi có ý nghĩa chiến lược, tránh phân tán, dàn trải. Hình thành chu trình khép kín từ nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất đến cải tiến sản phẩm.

Hai là, phát triển công nghệ nền, công nghệ lõi, tạo đột phá về năng lực làm chủ công nghệ. Tập trung vào lĩnh vực công nghệ then chốt như vật liệu mới, thuốc phóng, thuốc nổ, điện tử, viễn thông, điều khiển, dẫn đường, công nghệ không người lái, trí tuệ nhân tạo và tích hợp hệ thống, qua đó từng bước khắc phục tình trạng phụ thuộc vào công nghệ, linh kiện từ bên ngoài, tăng khả năng tự chủ ở các khâu quyết định. Cùng với đó, nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống, chuyển từ cải tiến, nâng cấp trên nền tảng sẵn có sang phát triển các sản phẩm mới có hàm lượng công nghệ cao. Gắn chặt hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ với sản xuất, từng bước đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất thử nghiệm và sản xuất loạt, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực cần gắn trực tiếp với các chương trình nghiên cứu thiết kế, sản xuất trọng điểm, hình thành đội ngũ có năng lực triển khai và hoàn thiện công nghệ trong điều kiện thực tế. Tập trung xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh theo hướng liên ngành, gắn với lĩnh vực công nghệ then chốt, từng bước hình thành các nhóm nghiên cứu chuyên sâu có năng lực cạnh tranh và giữ vai trò hạt nhân trong phát triển công nghệ. Hoàn thiện cơ chế đãi ngộ theo hướng đặc thù, tạo môi trường làm việc ổn định, điều kiện nghiên cứu và thử nghiệm thuận lợi để thu hút, trọng dụng nhân tài.

Bốn là, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Tạo lập sự gắn kết thực chất giữa các cơ sở nghiên cứu, nhà trường, doanh nghiệp quốc phòng và doanh nghiệp dân sự, trong đó doanh nghiệp quốc phòng giữ vai trò trung tâm trong tiếp nhận, hoàn thiện và đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Thúc đẩy cơ chế chuyển giao công nghệ hai chiều giữa khu vực quốc phòng và dân sự, gắn với phát triển các sản phẩm lưỡng dụng, nhằm mở rộng không gian ứng dụng và nâng cao hiệu quả khai thác cũng như giá trị nghiên cứu; bảo đảm từng bước làm chủ và phát triển các công nghệ tiên tiến.

Năm là, phát huy vai trò dẫn dắt của KHCN trong định hướng chiến lược phát triển CNQP. Xây dựng chiến lược và quy hoạch cần đặt KHCN ở vị trí trung tâm, gắn với các chương trình nghiên cứu trọng điểm, yêu cầu phát triển VKTBKT. Định hướng phát triển xuất phát từ năng lực công nghệ và khả năng làm chủ trong thực tiễn. Đổi mới cơ chế lựa chọn, tổ chức và đánh giá các nhiệm vụ KHCN cần gắn với hiệu quả ứng dụng, khắc phục tình trạng dàn trải, thiếu trọng tâm.

Có thể khẳng định, tiềm lực KHCN giữ vai trò then chốt, là nhân tố quyết định trong xây dựng và phát triển nền CNQP tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Do đó, cần tiếp tục ưu tiên đầu tư, khai thác và phát huy hiệu quả tiềm lực KHCN, bảo đảm KHCN thực sự trở thành nền tảng vững chắc, động lực quan trọng thúc đẩy CNQP phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Thượng tá, TS. BÙI TIẾN PHÚC

Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26/1/2022 về đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo, Hà Nội, 2022.

2. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp, Hà Nội, 2024.

3. Đảng bộ Quân đội, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII,  Hà Nội, 2025.

4. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/1/2025 về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội,

Hà Nội, 2025.

5. Tổng cục Chính trị, Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2025.

 

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại