Theo Chương trình môi trường Liên hợp quốc, kinh tế xanh là nền kinh tế cải thiện phúc lợi của con người và công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể rủi ro cho môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả và toàn diện về mặt xã hội. Phát triển kinh tế xanh là xu hướng tất yếu của mọi quốc gia, xuất phát từ mục tiêu phát triển bền vững, nhất là trước thách thức của Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu hiện nay.
Những năm qua, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế xanh, bền vững ngày càng được hoàn thiện và gắn liền với mục tiêu vì con người: "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường"; "Quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu… xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường"1.
Là một bộ phận của nền công nghiệp quốc gia, một trong các nhiệm vụ của CNQP là tham gia phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nền CNQP lưỡng dụng, hiện đại có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, góp phần kết hợp củng cố QPAN với phát triển KT-XH. Thực tế cho thấy, thời gian qua, CNQP đã nghiên cứu, chế tạo, sản xuất được nhiều chủng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) đáp ứng yêu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của Quân đội; đồng thời sản xuất nhiều sản phẩm phục vụ dân sinh và xuất khẩu.
Với tính chất đặc thù của CNQP gồm nhiều cơ sở nghiên cứu, nhà máy sản xuất, sửa chữa vũ khí - khí tài quân sự, đóng tàu, cơ khí, hóa chất, quang điện - điện tử… trong quá trình hoạt động, các cơ sở CNQP luôn nhận thức rõ trách nhiệm phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý thức, trách nhiệm, bảo vệ môi trường cho cán bộ, công nhân viên, người lao động được quan tâm. Các đơn vị CNQP thường xuyên khảo sát, đánh giá hiện trạng, quan trắc môi trường; đầu tư công nghệ xử lý môi trường, chất thải, nước thải; xử lý kịp thời sự cố môi trường… Những kết quả đạt được góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm, đảm bảo môi trường xanh, sạch cho phát triển KT-XH và bảo đảm QPAN. Tuy nhiên, quá trình hoạt động cũng khó tránh khỏi tác động nhất định đến môi trường sinh thái ở những mức độ khác nhau. Chính vì vậy, nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển quốc gia, việc phát triển CNQP cần chú trọng phát huy vai trò đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế xanh, bền vững, trong đó tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển CNQP phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH quốc gia. Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh: "Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án… Quản lý, khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái, chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường…"2. Trên cơ sở đó, quy hoạch phát triển CNQP cần chú trọng thực hiện tốt quan điểm lưỡng dụng, đảm bảo lợi ích KT-XH, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân trên địa bàn. Làm tốt công tác khảo sát, đánh giá năng lực bảo vệ môi trường của một số cơ sở CNQP nòng cốt để phục vụ việc lập quy hoạch. Trong các đề án quy hoạch, kế hoạch phát triển CNQP cần được tính toán kỹ lưỡng, kèm theo các tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể về bảo vệ môi trường; dự báo, đánh giá những tác động tiêu cực, sự cố có thể xảy ra đối với môi trường sinh thái khi thực hiện các hoạt động phát triển CNQP; tập trung đầu tư hệ thống quan trắc, bảo vệ môi trường, xử lý chất thải độc hại… Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình sản xuất vũ khí, trang bị; nâng cao hiệu quả khai thác khoáng sản phục vụ sản xuất quốc phòng…
.jpg)
Hệ thống xử lý khí thải của Nhà máy Z131. Ảnh: CTV
Hai là, chủ động trong phát triển khoa học, công nghệ (KHCN) hiện đại, chuyển đổi số gắn với bảo vệ môi trường. Đây đang là yếu tố quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia, trong xu thế đó, sự phát triển của CNQP không thể tách rời. Sản xuất CNQP cần đẩy mạnh ứng dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, năng lượng quốc gia trên nền tảng KHCN hiện đại; lấy đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, làm động lực quan trọng để phát triển nhanh, bền vững. Nghiên cứu công nghệ xử lý chất thải đặc thù quốc phòng; ứng dụng công nghệ tổng hợp hóa-sinh để xử lý chất thải của các nhà máy quốc phòng; từng bước tự động hóa dây chuyền xử lý để tăng năng suất, tiết kiệm nhân lực và chi phí.
Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế trong sản xuất CNQP gắn với mục tiêu phát triển kinh tế xanh, bền vững. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNQP là yêu cầu tất yếu nhằm hiện đại hóa các dây chuyền công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng thị trường và năng lực sản xuất quốc phòng gắn với hội nhập quốc tế. Những năm qua, nhờ đẩy mạnh hợp tác, năng lực nghiên cứu, sản xuất của CNQP được nâng lên, đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng và đóng góp cho nền kinh tế quốc gia. CNQP Việt Nam đã làm chủ công nghệ sản xuất súng bộ binh thế hệ mới; nâng cao năng lực sản xuất các loại khí tài quang học; sản xuất các loại thuốc phóng, thuốc nổ, ngòi đạn… thông qua hợp tác với các nước có nền CNQP tiên tiến. Tiếp tục quán triệt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26/1/2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về "Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo", Nghị quyết số 2662-NQ/QUTW ngày 26/2/2024 của Quân ủy Trung ương về "Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo", để hợp tác quốc tế trong sản xuất CNQP gắn với phát triển kinh tế xanh, bền vững cần nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu kỹ thuật, công nghệ của thế giới phục vụ sản xuất VKTBKT. Giảm thiểu nhập các sản phẩm, công nghệ có thể tác động xấu đến môi trường sinh thái; triển khai các dự án đầu tư, nghiên cứu phát triển sản phẩm mũi nhọn.
Bốn là, coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có đủ năng lực, trình độ nghiên cứu, chế tạo, sản xuất VKTBKT gắn với mục tiêu phát triển xanh, bền vững. Ngoài nguồn cán bộ, kỹ sư được đào tạo cơ bản tại các học viện, nhà trường trong quân đội, các cơ sở CNQP lựa chọn, tiếp cận nguồn nhân lực, chuyên gia chất lượng cao ở bên ngoài để mở rộng hoạt động nghiên cứu, đổi mới công nghệ sản xuất. Cùng với đó, cần hoàn thiện hành lang pháp lý cho phép các cơ sở CNQP nòng cốt tham gia liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài có đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ CNQP; ưu tiên liên doanh, liên kết để sản xuất và phát triển các loại VKTBKT chiến lược; hợp tác trong nghiên cứu công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ cao. Chủ động lựa chọn đối tác và địa bàn hợp tác, hướng tới công nghệ xanh, sạch. "Sử dụng hiệu quả chính sách đặt hàng sản xuất và chính sách mua sắm công nghệ để thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh"3.
Có thể thấy, để góp phần xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, CNQP cần phát triển theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Đồng thời, với vị trí, vai trò quan trọng, CNQP cần có những bước đi đột phá trong ứng dụng KHCN, chuyển đổi số cũng như hợp tác quốc tế, qua đó nâng cao hơn nữa năng lực sản xuất quốc phòng, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh, bền vững trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Thượng tá, ThS. ĐỖ THỊ QUỲNH ANH*
Thiếu tá ĐÀO XUÂN QUYẾT**
*Trường Sĩ quan Lục quân 2
**Trường Cao đẳng Kỹ thuật quân sự 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, T1, tr.117.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, phần II, tr.425.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2022), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr.147.