Sản xuất vũ khí, trang bị thông minh, hiện đại - cốt lõi của tự chủ tiềm lực quốc phòng Việt Nam

6/3/2026 7:19:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 43

CNQP&KT - Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ thế giới đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tiến hành chiến tranh và cấu trúc sức mạnh quân sự. Năng lực tự chủ nghiên cứu thiết kế và sản xuất vũ khí, trang bị (VKTB) hiện đại trở thành nhân tố quyết định đối với sức mạnh quốc phòng của mỗi quốc gia. Từ thực tế đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định phương hướng năm 2026: "Quyết tâm nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị tiên tiến, hiện đại"1. Vì vậy, tự chủ sản xuất VKTB thông minh, hiện đại là yếu tố cốt lõi bảo đảm tự chủ tiềm lực quốc phòng của Việt Nam.

TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VŨ KHÍ, TRANG BỊ THÔNG MINH, HIỆN ĐẠI

Hiện nay, việc nâng cao năng lực nghiên cứu thiết kế sản xuất VKTB thông minh, hiện đại không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt, mà còn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài nhằm bảo đảm khả năng tự chủ trong xây dựng tiềm lực quốc phòng Việt Nam. Tính tất yếu khách quan của phát triển sản xuất VKTB thông minh, hiện đại được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Một là, xuất phát từ sự phát triển đột phá của khoa học, công nghệ (KHCN) quân sự và sự biến đổi của hình thái chiến tranh. Thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, công nghệ lượng tử và vật liệu tiên tiến ngày càng được nghiên cứu và tích hợp vào các hệ thống VKTB quân sự. Đặc biệt, xu hướng sử dụng các nhóm phương tiện bay không người lái (UAV), phối hợp với vũ khí siêu vượt âm, tên lửa hành trình tầm xa và các hệ thống phòng thủ tích hợp AI đang từng bước định hình lại cục diện các cuộc xung đột trong tương lai. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, nắm bắt các công nghệ lõi, làm chủ quá trình thiết kế, tích hợp hệ thống và phát triển năng lực sản xuất các hệ thống vũ khí công nghệ cao trở thành yêu cầu quan trọng đối với nhiều quốc gia.

Hai là, xuất phát từ thực tiễn các cuộc xung đột quân sự hiện đại. Các cuộc xung đột quân sự gần đây cho thấy vai trò ngày càng nổi bật của VKTB công nghệ cao trong việc định hình cục diện chiến trường. Việc sử dụng rộng rãi UAV, tên lửa chính xác cao cùng các hệ thống trinh sát, chỉ huy tích hợp giúp các bên duy trì ưu thế và nâng cao khả năng thích ứng với môi trường tác chiến hiện đại. Bên cạnh đó, tác chiến điện tử và tác chiến không gian mạng ngày càng giữ vai trò quan trọng, tập trung vào gây nhiễu hệ thống điều khiển, làm gián đoạn mạng thông tin và suy giảm năng lực chỉ huy, kiểm soát của đối phương.

Ba là, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tự chủ tiềm lực quốc phòng của mỗi quốc gia. Thực tiễn cho thấy, sự phụ thuộc vào nguồn cung VKTB và công nghệ quân sự từ bên ngoài có thể tạo ra những rủi ro đáng kể đối với khả năng bảo đảm quốc phòng, đặc biệt trong các tình huống khủng hoảng hoặc xung đột kéo dài. Trong điều kiện đó, việc phát triển nền công nghiệp quốc phòng (CNQP) tự chủ và từng bước làm chủ các công nghệ quốc phòng then chốt trở thành xu hướng quan trọng nhằm bảo đảm khả năng quốc phòng trong mọi tình huống.

Thử nghiệm vũ khí mới do Tổng cục CNQP nghiên cứu thiết kế, chế tạo.     Ảnh: HẢI ĐĂNG

Bốn là, xuất phát từ yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Quá trình xây dựng quân đội theo hướng hiện đại đòi hỏi đổi mới về tổ chức lực lượng, phương thức huấn luyện, nghệ thuật quân sự và đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc bảo đảm VKTB thông minh, hiện đại, phù hợp với đặc điểm của chiến tranh công nghệ cao. Mặt khác, phát triển năng lực nghiên cứu, sản xuất VKTB hiện đại còn góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa CNQP, tăng cường tiềm lực KHCN quân sự của đất nước. Đây là nền tảng vật chất, kỹ thuật quan trọng để Quân đội nhân dân Việt Nam từng bước nâng cao khả năng tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và trong mọi tình huống.

VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT VŨ KHÍ, TRANG BỊ THÔNG MINH, HIỆN ĐẠI

Từ những yêu cầu khách quan đã phân tích ở trên, phát triển năng lực sản xuất VKTB thông minh, hiện đại giữ vai trò then chốt trong bảo đảm tự chủ tiềm lực quốc phòng Việt Nam. Trong đó, đặt ra yêu cầu phải phấn đấu làm chủ toàn bộ chuỗi giá trị từ nghiên cứu thiết kế, sản xuất, bảo đảm kỹ thuật, sửa chữa, cải tiến, nâng cấp, chuyển nhanh sang làm chủ được thiết kế, công nghệ nền, công nghệ lõi:

Tạo nền tảng vật chất - kỹ thuật vững chắc cho tiềm lực quốc phòng. Khi làm chủ được quá trình nghiên cứu thiết kế và sản xuất, việc bảo đảm vũ khí, phương tiện kỹ thuật cho Quân đội sẽ chủ động hơn, giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài. Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, khi các hình thái tác chiến công nghệ cao ngày càng phát triển, việc bảo đảm VKTB tiên tiến trở thành yếu tố trực tiếp quyết định hiệu quả tác chiến và khả năng phát huy sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang.

Nâng cao năng lực tự chủ tiềm lực quốc phòng. Làm chủ công nghệ và năng lực sản xuất VKTB thông minh, hiện đại là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ tiềm lực quốc phòng. Bên cạnh đó, khả năng làm chủ công nghệ còn cho phép chủ động cải tiến, điều chỉnh và phát triển các hệ thống vũ khí phù hợp với đặc điểm chiến lược quốc phòng và điều kiện tác chiến của Việt Nam. Nhờ đó, hệ thống trang bị quân sự có thể được phát triển theo hướng đồng bộ, hiện đại, góp phần nâng cao năng lực phòng thủ quốc gia và duy trì thế chủ động chiến lược trong bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia.

Thúc đẩy phát triển CNQP lưỡng dụng, hiện đại. Quá trình nghiên cứu thiết kế và chế tạo các hệ thống vũ khí thông minh, hiện đại đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của nhiều ngành công nghiệp nền tảng như công nghiệp nặng (luyện kim, cơ khí chế tạo), công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin (vi mạch, phần mềm, AI), công nghiệp hóa chất (vật liệu mới, thuốc nổ), công nghiệp hàng không vũ trụ, công nghiệp đóng tàu, công nghiệp năng lượng... Điều này góp phần hình thành nền CNQP có trình độ công nghệ cao, có khả năng tích hợp và làm chủ các chuỗi giá trị sản xuất phức tạp. Bên cạnh đó, sự phát triển của CNQP còn thúc đẩy mô hình công nghiệp lưỡng dụng, trong đó nhiều công nghệ và sản phẩm quốc phòng có thể được chuyển giao, ứng dụng trong các lĩnh vực dân sinh.

Thiết bị bay không người lái do Tổng cục CNQP nghiên cứu chế tạo.        Ảnh: CTV

Tăng cường khả năng răn đe chiến lược và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Khi có khả năng tự chủ nghiên cứu thiết kế và chế tạo các hệ thống VKTB thông minh, hiện đại, sẽ chủ động trong việc bảo đảm sức mạnh quân sự cần thiết để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia. Năng lực này giúp nâng cao hiệu quả phòng thủ, tạo thế cân bằng chiến lược trong quan hệ quốc tế, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn các nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa. Hơn nữa, một nền CNQP có trình độ công nghệ cao sẽ góp phần nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế; củng cố niềm tin chiến lược trong quan hệ hợp tác quốc phòng với các quốc gia khác, tạo điều kiện mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phát triển CNQP theo hướng thông minh, hiện đại.

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY NGHIÊN CỨU, SẢN XUẤT VŨ KHÍ, TRANG BỊ THÔNG MINH, HIỆN ĐẠI

Xuất phát từ tính tất yếu khách quan và vai trò của VKTB thông minh, hiện đại, để thúc đẩy nghiên cứu và phát triển năng lực sản xuất VKTB thông minh, hiện đại, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội thúc đẩy phát triển CNQP hiện đại. Theo đó, cần xây dựng hệ thống chính sách ưu tiên đối với hoạt động nghiên cứu, phát triển và sản xuất các sản phẩm CNQP thông minh, hiện đại. Đồng thời, đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách, đặt hàng và giao nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất VKTB nhằm bảo đảm tính chủ động cho các cơ sở CNQP. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định: "Hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực và sức mạnh tổng hợp của các doanh nghiệp ngoài Quân đội trong việc nghiên cứu, sản xuất các trang thiết bị quốc phòng hiện đại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện tác chiến mới"2. Trên cơ sở đó, khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ cao, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo trong phát triển các sản phẩm quốc phòng lưỡng dụng, thúc đẩy công nghiệp phụ trợ và mở rộng các mô hình hợp tác công - tư trong lĩnh vực quốc phòng...

Hai là, tập trung đầu tư phát triển công nghệ quân sự lõi và năng lực nghiên cứu, thiết kế VKTB thông minh, hiện đại. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo, cải tiến và hiện đại hóa các loại VKTB có ý nghĩa chiến lược; ưu tiên phát triển các nhóm sản phẩm chủ yếu trang bị cho lục quân, tàu quân sự và vũ khí dưới nước; hệ thống tác chiến không gian mạng; xe tăng, pháo tự hành…

Ba là, xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu, thiết kế, sản xuất VKTB hiện đại và phát triển CNQP theo hướng lưỡng dụng, hiện đại. Cần hình thành đồng bộ hệ sinh thái KHCN phục vụ CNQP thông qua tăng cường liên kết giữa các viện nghiên cứu KHCN quân sự, các cơ sở CNQP, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ cao. Thúc đẩy cơ chế phối hợp giữa nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và tổ chức sản xuất, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn. Tiếp tục sắp xếp, cơ cấu lại các cơ sở CNQP theo hướng tinh, gọn, mạnh; xây dựng các doanh nghiệp CNQP có vai trò dẫn dắt trong một số lĩnh vực công nghệ mũi nhọn.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực KHCN. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh "quan tâm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng vũ trang"3. Vì vậy, cần tập trung xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng và công nhân kỹ thuật bậc cao trong các lĩnh vực công nghệ then chốt. Tăng cường liên kết giữa các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp CNQP nhằm gắn kết đào tạo với nghiên cứu và sản xuất thực tiễn.

Năm là, mở rộng hợp tác quốc tế và nâng cao hiệu quả hội nhập trong nghiên cứu, sản xuất VKTB thông minh, hiện đại. Hợp tác quốc tế là kênh quan trọng để tiếp cận các thành tựu KHCN tiên tiến và nâng cao năng lực nghiên cứu thiết kế, sản xuất VKTB hiện đại. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã xác định: "Chủ động hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, triển khai thỏa thuận hợp tác với các nước có nền công nghiệp quốc phòng hiện đại"4. Xác định đối tác chiến lược và lĩnh vực ưu tiên trong hợp tác quốc tế, tập trung vào chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và tiếp thu kinh nghiệm quản trị, tổ chức sản xuất CNQP. Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết trong các lĩnh vực có tính lưỡng dụng cao; tham gia có chọn lọc vào chuỗi cung ứng CNQP khu vực và quốc tế, góp phần nâng cao trình độ công nghệ và năng lực sản xuất trong nước.

Trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao ngày càng phát triển, năng lực nghiên cứu và sản xuất VKTB hiện đại trở thành nhân tố quan trọng bảo đảm tự chủ tiềm lực quốc phòng. Việc thúc đẩy phát triển CNQP gắn với tiến bộ KHCN và nâng cao năng lực công nghiệp quốc gia sẽ tạo nền tảng vững chắc cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

Thiếu tướng, PGS, TS. HOÀNG VĂN PHAI

Phó Giám đốc Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội năm 2026, Hà Nội, tháng 12/2025.

2, 4. Tổng cục Chính trị, Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2025.

3.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2026, tập 1, tr.37.

 

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại