Hệ sinh thái Công nghiệp quốc phòng Thổ Nhĩ Kỳ

10/4/2026 5:51:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 39

CNQP&KT - Trong 2 thập kỷ qua, thông qua việc hợp tác, chuyển giao công nghệ với các đối tác, kết hợp thương mại với quốc phòng, sao chép công nghệ… Thổ Nhĩ Kỳ trở thành nước có nền công nghiệp quốc phòng (CNQP) phát triển nhanh chóng. Từ phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu vũ khí, nước này đã xây dựng được một hệ sinh thái quốc phòng tương đối hoàn chỉnh, với mục tiêu tự chủ công nghệ và tăng cường xuất khẩu.

TỔNG QUAN

Nền CNQP Thổ Nhĩ Kỳ được hình thành từ những năm 1940. Nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô, Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ bước đầu thành lập 6 nhà máy sản xuất, lắp ráp các loại đạn, bom, pháo, cối, xe bọc thép và các thiết bị điện tử. Sau đó, nhờ chiến lược phù hợp và giải pháp linh hoạt, nền CNQP Thổ Nhĩ Kỳ đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về tính chất và quy mô, đáp ứng phần lớn nhu cầu vũ khí, trang bị (VKTB) cho quân đội.

Những năm 1980, sau khi các biện pháp cấm vận của cộng đồng quốc tế được gỡ bỏ, Thổ Nhĩ Kỳ phát triển vượt bậc về nhiều lĩnh vực, trong đó có CNQP. Với những lợi thế về tiềm lực kinh tế, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nền CNQP Thổ Nhĩ Kỳ đã tự nghiên cứu, sản xuất và đáp ứng khoảng 90% nhu cầu VKTB của các lực lượng vũ trang nước này, trong đó có nhiều VKTB đạt đến trình độ tiên tiến trên thế giới.

Hiện nay, Thổ Nhĩ Kỳ có cơ cấu ngành CNQP gồm hàng trăm doanh nghiệp, trong đó nhiều tập đoàn lớn hoạt động trong các lĩnh vực: hàng không vũ trụ, máy bay không người lái (UAV), xe bọc thép, điện tử, radar và tác chiến điện tử, tên lửa… Một số doanh nghiệp nổi bật như: ASELSAN sản xuất thiết bị điện tử quân sự, radar, hệ thống chỉ huy, tác chiến điện tử, thông tin liên lạc. Turkish Aerospace Industries (TAI) chuyên sản xuất máy bay huấn luyện, máy bay chiến đấu thế hệ mới, UAV; Roketsan nổi bật trong lĩnh vực tên lửa chống tăng, rocket, tên lửa phòng không, tên lửa hành trình; BMC sản xuất xe tải quân sự, xe bọc thép, xe tăng. Otokar chuyên về xe bọc thép, bánh lốp, xe chiến đấu bộ binh… Thổ Nhĩ Kỳ cũng trở thành một trong những nước xuất khẩu quốc phòng nổi bật trong những năm gần đây, với các thị trường chính gồm Trung Đông, Bắc Phi, Đông Âu, Trung Á, Đông Nam Á, châu Phi…

Hệ thống phòng không Bavar-373 được trang bị tên lửa Sayyad-3.     Ảnh: Internet

Theo đánh giá, CNQP Thổ Nhĩ Kỳ có chi phí sản xuất cạnh tranh; chu kỳ phát triển sản phẩm tương đối nhanh; kinh nghiệm vận hành thực tế giúp hoàn thiện thiết kế; chính sách hỗ trợ mạnh từ nhà nước và khả năng tích hợp nhiều hệ thống nội địa. Tuy nhiên, ngành CNQP nước này vẫn còn điểm cần cải thiện, như: một số động cơ cho máy bay, xe tăng và tàu chiến vẫn phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài; công nghệ bán dẫn và điện tử tiên tiến chưa hoàn toàn tự chủ; chịu tác động từ các quy định kiểm soát xuất khẩu công nghệ của các nước đối tác…

KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN

Thứ nhất, thành lập và hoàn thiện các cơ quan chuyên trách đảm nhận nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất và thống nhất quản lý nền CNQP. Đầu những năm 1950, Thổ Nhĩ Kỳ thành lập Ủy ban nguồn lực quốc phòng, Văn phòng sản xuất đạn dược là 2 cơ quan có nhiệm vụ giám sát việc hoạch định chính sách liên quan đến vũ khí; thành lập nhà máy sản xuất súng đầu tiên và Cơ quan kỹ thuật đảm nhiệm thu thập thông tin và dữ liệu kỹ thuật về phương pháp sản xuất; Viện quốc gia về nghiên cứu quốc phòng để đánh giá và lập kế hoạch phát triển CNQP.

Tàu tấn công đổ bộ đa năng TCG Anadolu của Thổ Nhĩ Kỳ.     Ảnh: Internet

Thứ hai, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về phát triển CNQP. Giữa những năm 1960, Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ ban hành Đạo luật sản xuất và phát triển vũ khí để mở đường thành lập một tập đoàn sản xuất và phát triển vũ khí đặc biệt, nhằm củng cố và thống nhất quản lý sản xuất vũ khí của cả nhà nước và tư nhân. Những năm 1990, tiếp tục ban hành nhiều văn bản mang cả tính pháp lý và định hướng để phát triển CNQP, như: Sách trắng Quốc phòng, Báo cáo Quốc phòng, Đạo luật Quản lý tài chính công, Đạo luật Quốc phòng… Đáng chú ý, trong Sách trắng Quốc phòng đã đề ra 6 lĩnh vực mang tính chiến lược cho nền CNQP Thổ Nhĩ Kỳ đó là: đảm bảo hậu cần; sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị và hệ thống; tích hợp hệ thống chỉ huy, kiểm soát và thông tin liên lạc; cảm biến, xử lý tín hiệu và dữ liệu; phần mềm và bảo đảm cho hệ thống chiến đấu; hệ thống mô phỏng và tác chiến giả định. 

Tên lửa siêu vượt âm Tayfun Block-4 của Thổ Nhĩ Kỳ, trưng bày tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế IDFF 2025.             Ảnh: Internet

Thứ ba, tích cực hợp tác với các nước có nền CNQP tiên tiến. Trước khi Liên hợp quốc áp đặt lệnh cấm vận vũ khí (năm 1963), Thổ Nhĩ Kỳ tiếp nhận nhiều công nghệ quân sự thông qua các thỏa thuận nhượng quyền, đặc biệt là từ Tây Đức, Italia, Israel, Pháp, Bỉ... Các thỏa thuận nhượng quyền công nghiệp hoặc hợp tác sản xuất giúp Thổ Nhĩ Kỳ từng bước sản xuất được nhiều VKTB có chất lượng tương đương với sản phẩm nhập khẩu. Cuối những năm 1960, Thổ Nhĩ Kỳ tiếp nhận hàng trăm giấy phép sản xuất từ nước ngoài đối với các loại vũ khí, đạn và xe quân sự. Thổ Nhĩ Kỳ còn mua máy bay chiến đấu, máy bay tuần tra biển, xe tăng, tàu chiến và các vũ khí hải quân khác từ các nước châu Âu và Tây Âu. Qua đó làm cơ sở nghiên cứu, cải tiến, sản xuất ra các sản phẩm "nhái". Gần đây, Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục nhập khẩu nhiều VKTB hiện đại như: tàu cao tốc chiến đấu FB MIL-40 và tên lửa chống tăng MILAN-3 của Italia; camera hồng ngoại giám sát của Pháp; ống nhòm hồng ngoại VNA-8, súng phóng lựu tự động AGL-30M của Bulgari… Đây là cơ sở để Thổ Nhĩ Kỳ nghiên cứu và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến khác.

Thứ tư, tập trung các nguồn lực đầu tư vào các tập đoàn trọng điểm, đặc biệt là tập đoàn CNQP của nhà nước. Ngay từ đầu những năm 1970, Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã thành lập các nhà máy sản xuất, lắp ráp VKTB quân sự, tạo nền tảng và sau đó trở thành "xương sống" cho nền CNQP. Nhờ đó, từng bước sản xuất và đáp ứng được nhu cầu vũ khí hạng nhẹ, xe quân sự, thiết bị quang học và đạn cho quân đội. Đồng thời, Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tái thành lập Tập đoàn vũ khí, trở thành một tập đoàn CNQP chủ lực, mở rộng ngành công nghiệp sản xuất vũ khí, nắm quyền kiểm soát các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Đầu những năm 1990, Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành tư nhân hóa nền CNQP, tuy nhiên, tập đoàn này vẫn vận hành theo cách thức của một tổ chức nhà nước, được giao những trọng trách như mua sắm vũ khí và điều chỉnh chính sách xuất nhập khẩu quân sự của Chính phủ; cung cấp các giấy tờ và đảm bảo sự hợp chuẩn với các thỏa thuận quốc tế.

Thứ năm, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất nhập khẩu VKTB. Đây là một trong những động lực để phát triển nền CNQP của Thổ Nhĩ Kỳ. Về xuất khẩu, mặc dù bị cấm vận, nhưng những năm 1980, bằng các cách thức khác nhau vẫn có khoảng 50 nước mua vũ khí của Thổ Nhĩ Kỳ. Ngoài ra, nước này còn xuất khẩu nhiều loại vũ khí sang Trung Đông, Nam Tư và nhiều nước khác trên thế giới. Việc duy trì và mở rộng thị thường xuất khẩu vũ khí cho thấy sự lớn mạnh nhanh chóng của nền CNQP Thổ Nhĩ Kỳ; đồng thời giải quyết đầu ra cho các sản phẩm, thu lợi nhuận, tăng thêm tiềm lực tài chính phục vụ tái đầu tư nghiên cứu, cải tiến, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, tạo sự hấp dẫn cho các tập đoàn CNQP nước ngoài hợp tác đầu tư… Quá trình nhập khẩu VKTB cũng cho phép Thổ Nhĩ Kỳ tiếp cận các loại vũ khí công nghệ cao, làm cơ sở tự thiết kế, sản xuất các sản phẩm "tương tự".

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

Thổ Nhĩ Kỳ xác định tiếp tục duy trì và phát triển CNQP như một trong những trụ cột của nền kinh tế. Trong thập kỷ tới, CNQP Thổ Nhĩ Kỳ đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ tự chủ các công nghệ cốt lõi; tiếp tục phát triển máy bay chiến đấu thế hệ mới KAAN, các dòng UAV có khả năng hoạt động trên biển và tích hợp trí tuệ nhân tạo; tăng cường năng lực trong lĩnh vực động cơ, tên lửa và không gian; mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt tại châu Phi, Trung Đông và châu Á. Để thực hiện được mục tiêu này, chiến lược phát triển CNQP Thổ Nhĩ Kỳ tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Một là, xây dựng và phát triển CNQP phải dựa trên những hoạch định và chính sách của Chính phủ. Chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ chủ trương huy động tất cả các cấp tham gia đầu tư, phát triển nền CNQP; sử dụng có hiệu quả đồng vốn và giảm chi phí đầu tư; phân công trách nhiệm cụ thể trong hỗ trợ phát triển CNQP để tăng cường nguồn thu ngoại tệ và giảm phí nhập khẩu VKTB; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nền CNQP với quân đội.  

Hai là, mở rộng và tăng cường tiếp nhận hỗ trợ cho phát triển sản xuất công nghiệp nói chung và nền CNQP nói riêng. Trước đây, nhờ mở rộng hợp tác và tiếp thu các nguồn lực từ bên ngoài cho phép nền công nghiệp của Thổ Nhĩ Kỳ nói chung và CNQP nói riêng chuyển từ nhập khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh sang chỉ nhập khẩu các linh kiện và công nghệ; làm cơ sở cho nước này tự nghiên cứu, thiết kế, sản xuất các hệ thống VKTB nội địa. Do đó, Thổ Nhĩ Kỳ xác định thông qua cách thức này, các ngân hàng và các công ty đa quốc gia vẫn sẽ là nguồn cung cấp công nghệ và vốn chủ yếu cho phát triển nền CNQP Thổ Nhĩ Kỳ.

Ba là, tăng cường đầu tư phát triển thiết bị, công nghệ lưỡng dụng và kỹ thuật sản xuất. Thổ Nhĩ Kỳ chủ trương tiếp tục nâng cao khả năng điều chỉnh, thiết kế lại, nâng cấp hàng loạt hệ thống VKTB thông qua sử dụng công nghệ của nước ngoài; tiếp tục đầu tư vào các ngành công nghiệp chiến lược; tuyển dụng các kỹ sư nước ngoài để thiết kế, phát triển và sản xuất vũ khí; thuê và cho thuê dịch vụ kỹ thuật kể cả máy tính; sử dụng các biện pháp khác nhau để mua bán thông qua nước thứ ba…

Như vậy, CNQP Thổ Nhĩ Kỳ đã chuyển mình từ một ngành chủ yếu lắp ráp và phụ thuộc nhập khẩu thành hệ sinh thái có năng lực thiết kế, sản xuất và xuất khẩu nhiều loại khí tài. Dù vẫn còn phụ thuộc vào nước ngoài ở một số công nghệ nền tảng, Thổ Nhĩ Kỳ được đánh giá là một trong những trung tâm CNQP đang phát triển nhanh và có sức cạnh tranh đáng kể trên thị trường quốc tế.

Đại tá LÊ VĂN THÀNH

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại