Tạo đột phá từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

10/4/2026 6:02:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 38

CNQP&KT - Sau gần 2 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (CNQP) đã ghi nhận những chuyển biến rõ nét trong phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (CĐS). Kết quả đạt được trong thực hiện nghị quyết quan trọng này tạo nền tảng để CNQP Việt Nam từng bước nâng cao năng lực tự chủ, phát triển theo hướng lưỡng dụng, hiện đại.

Theo ghi nhận, một trong những dấu ấn nổi bật trong thực hiện Nghị quyết 3488-NQ/QUTW ngày 29/1/2025 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội (gọi tắt là Nghị quyết số 3488), là nguồn lực dành cho KHCN được quan tâm đầu tư mạnh mẽ. Năm 2026, ngân sách nhà nước chi cho nghiên cứu KHCN tăng gấp 3 lần so với năm 2023. Kinh phí trích từ Quỹ phát triển KHCN của các doanh nghiệp gấp 3,6 lần năm 2023. Nguồn lực được tăng cường đã tạo điều kiện để Tổng cục CNQP mở rộng quy mô nghiên cứu; đồng thời nâng cao hàm lượng công nghệ trong các chương trình, nhiệm vụ. Tổng cục đã triển khai nghiên cứu hàng chục sản phẩm vũ khí tích hợp hệ thống, công nghệ cao. Đáng chú ý, nhiều sản phẩm, công nghệ có tính chất nền tảng, chiến lược đã đạt kết quả quan trọng. Đề án TL-01 được nghiệm thu, làm chủ công nghệ chế tạo TL-01 và thép hợp kim đặc biệt; chế tạo thành công xe thiết giáp XCB-01, XTC-02; pháo tự hành PTH-01, pháo tàu PT-306, pháo bờ PB-306 cùng một số phương tiện không người lái như USV cảm tử, UAV trinh sát…

Hiệu quả của hoạt động nghiên cứu được thể hiện rõ qua khả năng đưa kết quả vào thực tiễn. Tổng cục đã triển khai 183 nhiệm vụ KHCN các cấp, nghiệm thu 78 nhiệm vụ; trong đó, 93,6% số nhiệm vụ được kiến nghị áp dụng vào thực tiễn và sản xuất loạt, vượt chỉ tiêu 90%. Đặc biệt, thời gian nghiên cứu, chế tạo một số sản phẩm được rút ngắn đáng kể. Nhiều vũ khí, trang bị công nghệ cao như xe tăng T-1 và xe thiết giáp XTC-03 hoàn thành mẫu trong khoảng 6 tháng; thời gian đưa sản phẩm vào trang bị được rút ngắn từ 2 đến 3 năm. Kết quả này đến từ sự thay đổi trong cách thức tổ chức nghiên cứu: từ quy trình tuần tự sang cách tiếp cận tích hợp, lấy sản phẩm và yêu cầu thực tiễn làm trung tâm.

Cùng với KHCN, đổi mới sáng tạo đang từng bước trở thành phương thức tạo ra thay đổi trong quản trị, nghiên cứu và sản xuất. Nổi bật là việc hình thành phương thức nghiên cứu mở. Thay vì tổ chức nghiên cứu khép kín trong từng đơn vị, Tổng cục đã huy động nhiều cơ quan, viện nghiên cứu, nhà máy CNQP và một số đơn vị trong toàn quân cùng tham gia giải quyết một bài toán công nghệ. Dự án xe XCB-01 có 16 đơn vị phối hợp, trong khi dự án xe XTC-02 có 10 đơn vị tham gia. Cách làm này tạo điều kiện phát huy thế mạnh chuyên môn của từng đơn vị, đồng thời nâng cao khả năng tích hợp và rút ngắn thời gian hoàn thành sản phẩm. Thực tiễn cho thấy, với những sản phẩm tích hợp nhiều lĩnh vực công nghệ, không một đơn vị nào có thể tự đảm nhiệm toàn bộ chuỗi nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm và hoàn thiện. Do đó, việc hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành, liên đơn vị trở thành một phương thức quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư KHCN trong CNQP. Đổi mới sáng tạo cũng được thúc đẩy thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh lưỡng dụng. Một số nhà máy (Z117, Z175, Z176…) đã tham gia chuỗi cung ứng cho các tập đoàn lớn như Vingroup, IKEA, Decathlon, góp phần tạo thêm doanh thu, tiếp cận yêu cầu, tiêu chuẩn và phương thức quản trị hiện đại; qua đó tích lũy năng lực công nghệ, nguồn lực tài chính và kinh nghiệm sản xuất để phục vụ trở lại nhiệm vụ quốc phòng.

Thiếu tướng Dương Văn Yên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục CNQP chủ trì kiểm tra kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW tại Nhà máy Z129.    Ảnh: HẢI ĐĂNG

Cùng với KHCN, CĐS cũng đang trở thành nền tảng thay đổi phương thức quản trị, điều hành và tổ chức sản xuất trong CNQP. Tổng cục CNQP được Bộ Quốc phòng xếp thứ nhất toàn quân về triển khai trực tuyến và số hóa trong giải quyết thủ tục hành chính giai đoạn 2023-2026. Tỷ lệ máy tính kết nối mạng truyền số liệu quân sự tăng từ 29,75% năm 2024 lên 83,77% năm 2026. Trong công tác quản trị, tỷ lệ ký số toàn trình đối với văn bản không mật đạt 99,1%, văn bản "Mật" đạt 57,7%, vượt chỉ tiêu 50% của Bộ Quốc phòng. Tổng cục cũng đã số hóa 100% hồ sơ đảng viên, hồ sơ cán bộ. CĐS đang từng bước đi vào hoạt động sản xuất thông qua triển khai 3 phân xưởng mẫu tại Z114, Z131 và Z183; đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng các phần mềm ERP, MES trong điều hành sản xuất. CĐS đang chuyển dần từ việc đơn thuần đưa hồ sơ giấy lên môi trường điện tử sang xây dựng phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, từng bước kết nối các khâu từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất đến điều hành; tạo tiền đề quan trọng triển khai sản xuất thông minh.

Trong quá trình đẩy mạnh KHCN, đổi mới sáng tạo và CĐS, nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là yếu tố quyết định. Hiện, Tổng cục có hàng nghìn cán bộ trong lĩnh vực KHCN, đổi mới sáng tạo và CĐS. Tổng cục đang xây dựng hồ sơ đề nghị chức danh cho 1 tổng công trình sư và 3 nhà khoa học đầu ngành. Đây là bước đi quan trọng nhằm hình thành đội ngũ chuyên gia có khả năng dẫn dắt những chương trình, dự án công nghệ lớn và giải quyết các bài toán phức tạp của CNQP.

Bên cạnh những kết quả nổi bật, quá trình thực hiện Nghị quyết số 3488 trong Tổng cục CNQP cũng bộc lộ một số hạn chế, đó là nhận thức về vai trò của KHCN, đổi mới sáng tạo và CĐS chưa đầy đủ, dẫn tới tình trạng "trên nóng, dưới lạnh". Một số cơ chế đặc thù về kinh phí dự phòng, mua sắm vật tư đặc chủng, thù lao nghiên cứu còn vướng mắc khi áp dụng. Quy trình mở mới nhiệm vụ KHCN mất nhiều thời gian và chưa có cơ chế phù hợp; số lượng kết quả nghiên cứu làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền và sản phẩm chiến lược còn hạn chế; nhiều nhiệm vụ chậm tiến độ; nguồn lực tài chính vẫn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước...

Một số sản phẩm là kết quả nghiên cứu KHCN được ứng dụng vào sản xuất tại Nhà máy Z175.

Từ thực tiễn triển khai Nghị quyết số 3488 trong Tổng cục CNQP thời gian qua cho thấy, để KHCN, đổi mới sáng tạo và CĐS thực sự trở thành động lực phát triển, trước hết phải bắt đầu từ đổi mới tư duy lãnh đạo và nhận thức. Do đó, người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, quyết liệt chỉ đạo; khuyến khích, động viên cán bộ, kỹ sư dám nhận nhiệm vụ khó, dám nghiên cứu và dám chịu trách nhiệm. Cùng với đó, phát triển nhóm nghiên cứu mạnh và hệ sinh thái mở. Thực tế những dự án thành công, có sự tham gia của nhiều đơn vị là kết quả của liên kết đa ngành. Đây cần trở thành phương thức phổ biến để huy động nguồn lực, chuyên gia, viện nghiên cứu, nhà trường và doanh nghiệp cùng giải quyết các bài toán công nghệ phức tạp. Mặt khác, cần đổi mới quy trình quản lý nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; đồng thời gắn kết quả nghiên cứu với sản xuất và thị trường lưỡng dụng. Đối với CĐS, phải đi đôi với kỷ luật và an toàn thông tin. Các mô hình sản xuất thông minh tại Z131, Z114 cho thấy việc học tập, nhân rộng mô hình điểm có ý nghĩa thiết thực. Tuy nhiên, cần bảo đảm an toàn thông tin tuyệt đối, bởi sơ hở trong quản lý dữ liệu, thiết bị và kết nối mạng đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, an toàn và bí mật quốc phòng…

Với định hướng xây dựng nền CNQP tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, những kết quả đạt được sau gần 2 năm thực hiện Nghị quyết số 3488 đang tạo nền tảng quan trọng để Tổng cục CNQP bước vào giai đoạn phát triển mới. Mục tiêu  hướng tới là làm chủ các công nghệ nền, công nghệ lõi; hình thành hệ sinh thái nghiên cứu - sản xuất - đổi mới sáng tạo và thị trường; qua đó nâng cao tiềm lực CNQP và đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Bài và ảnh: MAI PHƯƠNG

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại