Bảo đảm vật tư phục vụ nghiên cứu, sản xuất UAV

10/13/2026 4:10:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 198

CNQP&KT - Phương tiện bay không người lái (UAV) đang trở thành một trong những lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh, phạm vi ứng dụng ngày càng rộng trong quốc phòng, an ninh và nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc đảm bảo vật tư kỹ thuật phục vụ nghiên cứu, chế tạo UAV vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cần có những giải pháp tháo gỡ.

Trong lĩnh vực quân sự, UAV là "xương sống" của hình thái "chiến tranh phi đối xứng". Trong công nghiệp dân sinh, UAV là động lực mới cho không gian phát triển "kinh tế tầm thấp" với chi phí thấp và hiệu quả vượt trội. Do đó, việc tự chủ bảo đảm vật tư kỹ thuật phục vụ chế tạo UAV là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản và lâu dài của mỗi quốc gia. Khác với các phương tiện truyền thống, hệ thống UAV có mức độ tích hợp cao giữa cơ khí, điện - điện tử, phần mềm, cảm biến, nguồn năng lượng, giao thức truyền thông và điều khiển. Vì vậy, việc duy trì sản xuất và khai thác không chỉ dựa vào năng lực thiết kế, chế tạo mà còn phụ thuộc trực tiếp vào khả năng bảo đảm vật tư và linh kiện cho toàn bộ vòng đời sản phẩm.

Theo chức năng, danh mục vật tư kỹ thuật để sản xuất một sản phẩm UAV có thể chia theo 8 cụm, gồm: vật tư chế tạo khung thân; động cơ và vật tư chế tạo động cơ; pin, cell pin và hệ thống bảo đảm duy trì năng lượng; vật tư cho sản xuất bộ điều khiển; vật tư cho công nghệ truyền dẫn dữ liệu; vật tư cho chế tạo mạch in; cảm biến và vật tư cho chế tạo hệ thống ổn định; vật mang và vật tư cho sản xuất vật mang. Căn cứ theo chuỗi cung ứng, phân loại vật tư sản xuất UAV thành 6 chuỗi: nguyên liệu, vật liệu cơ bản; linh kiện điện - điện tử; cụm chức năng; phần mềm và hệ thống điều khiển; tích hợp hệ thống; vật tư bảo đảm sau sản xuất, sửa chữa, phụ tùng thay thế. Theo cách phân loại nào thì các nhóm vật tư quan trọng cho sản xuất UAV vẫn bao gồm sợi carbon, nhựa kỹ thuật cao cấp và composite cho sản xuất khung thân; động cơ; vật tư cho sản xuất động cơ (gồm dây đồng quấn, rotor, cụm ổ bi trục quay); bộ điều khiển tốc độ điện tử (ESC); pin và cell pin và hệ thống quản lý pin; vi mạch điện tử; máy tính nhúng và bo mạch điều khiển bay; hệ thống truyền dẫn dữ liệu; camera, cảm biến vật lý cho hệ thống ổn định; đầu nổ, phần chiến đấu, cảm biến trinh sát... Đây là những nhóm công nghệ được chương trình sản phẩm công nghệ chiến lược của Việt Nam xác định cần làm chủ.

 

Một loại UAV do Tập đoàn Viettel nghiên cứu chế tạo.    Ảnh: CTV

 

Thời gian qua, mặc dù đã đạt được một số kết quả trong việc nội địa hóa vật tư kỹ thuật phục vụ nghiên cứu, sản xuất UAV như: khả năng tự chủ gia công khung thân vỏ, hạ tầng lắp ráp linh kiện điện tử và chế tạo mạch in, thiết kế phần mềm và tích hợp hệ thống. Tuy nhiên, công tác bảo đảm vật tư, nguyên liệu đầu vào cho chế tạo UAV ở trong nước nói chung và Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (CNQP) nói riêng còn gặp những khó khăn cần được tháo gỡ. Đó là:

Trước hết, sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng các vật tư chiến lược. Hầu hết linh kiện cốt lõi và các vật tư chính khác vẫn phải nhập khẩu; tiềm ẩn rủi ro lớn về an toàn thông tin, an ninh chuỗi cung ứng và khả năng tự chủ khi nguồn cung biến động. Ví dụ, toàn bộ IC là hàng nhập nguyên chiếc; đối với vật liệu nam châm chưa tinh chế và ép nam châm NdFeB đạt cấp công nghiệp; thiết bị quấn dây chính xác và cân bằng động hiện chỉ tập trung ở số ít cơ sở cơ khí chính xác, chưa hình thành cụm công nghiệp phụ trợ chuyên biệt cho động cơ UAV.

Xây dựng và phân loại danh mục vật tư chiến lược cho sản xuất UAV, gồm: nhóm vật tư phải làm chủ (vật liệu kết cấu, khung, thân, dây dẫn, phần mềm, thiết bị tích hợp); nhóm vật tư có nguồn cung đa dạng (cảm biến, camera, thiết bị truyền thông, bộ nguồn) và nhóm vật tư công nghệ cao nhập khẩu.

Thứ hai, chưa có cơ sở dữ liệu vật tư dùng chung cho UAV. Việc thiếu tiêu chuẩn hóa và chuẩn hóa vật tư dẫn đến mỗi đơn vị, nhóm nghiên cứu có thể phát triển một cấu hình riêng với các hệ thống đầu nối điện, điện áp, chuẩn cơ khí và giao thức truyền thông khác nhau. Khi đó, đặt ra vấn đề là cùng một chức năng nhưng vật tư không thể thay thế lẫn nhau; làm tăng số lượng mã vật tư, chi phí bảo đảm, thời gian sửa chữa và sự phụ thuộc vào nhà cung cấp. Ngoài ra, việc chưa có cơ sở dữ liệu thống nhất về chủng loại, nguồn cung, nên dù thiết kế đã hoàn thành nhưng không thể triển khai sản xuất loạt do thiếu vật tư.

Thứ ba, vòng đời linh kiện và sự phụ thuộc duy nhất vào một loại sản phẩm lõi. Khi nhà cung cấp ngừng sản xuất, toàn bộ dây chuyền phải được thiết kế lại. Thông thường, một UAV có vòng đời 10-15 năm, nhưng vòng đời thương mại của các linh kiện điện tử có thể ngắn hơn nhiều. Do đó, sau vài năm có thể xuất hiện tình trạng có sản phẩm nhưng không còn linh kiện để sửa chữa.

 

Chế tạo linh kiện UAV tại Nhà máy Z113 (Tổng cục CNQP).     Ảnh: MẠNH CHIẾN

 

Trong thời gian tới, để tháo gỡ những nút thắt, bảo đảm vật tư phục vụ nghiên cứu, sản xuất UAV, đề xuất tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, xây dựng và phân loại danh mục vật tư chiến lược cho sản xuất UAV, gồm: nhóm vật tư phải làm chủ (vật liệu kết cấu, khung, thân, dây dẫn, phần mềm, thiết bị tích hợp…); nhóm vật tư có nguồn cung đa dạng (cảm biến, camera, thiết bị truyền thông, bộ nguồn…); nhóm vật tư công nghệ cao nhập khẩu (các bán dẫn lõi MCU, IMU, PMIC, nam châm thiếu kết, rotor, sợi carbon…).

Hai là, xây dựng cơ sở dữ liệu chuẩn về vật tư UAV. Trong đó, thống nhất thông tin về tên sản phẩm, mã hàng, tiêu chuẩn, nguồn gốc, thông số kỹ thuật, mục đích sử dụng, vòng đời linh kiện, nhà cung cấp, thời gian cung ứng, đơn giá, rủi ro ngừng sản xuất và khả năng thay thế… Đây là những cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực dự báo, quản lý và điều hành vật tư, cũng như giúp cho việc xây dựng phương án bảo đảm phù hợp, lập kế hoạch mua sắm, dự trữ.

Ba là, xây dựng kho vật tư chiến lược, gồm kho vận hành phục vụ sửa chữa thường xuyên; kho dự phòng dành cho các vật tư, linh kiện có thời gian cung ứng dài; kho chiến lược dành cho các vật tư khó mua, các linh kiện có nguy cơ bị ngừng sản xuất hoặc thời gian giao hàng rất dài. Từng bước thiết lập, xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp sản xuất vật tư cho chế tạo phương tiện không người lái. 

Bốn là, phát huy năng lực của các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ trong nước để từng bước nghiên cứu, chế tạo các nhóm linh kiện, vật liệu UAV. Trước mắt, có thể đầu tư, sản xuất, lắp ráp bo mạch in, gia công cụm động cơ… trên cơ hạ tầng sẵn có thay vì nội địa hóa toàn bộ chuỗi bán dẫn và vật liệu từ ban đầu.

Năm là, tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, nhất là trong hướng dẫn, giải quyết các trường hợp vật tư mới, vật tư đặc thù hoặc có yêu cầu quản lý chuyên ngành. Đối với các đơn vị nghiên cứu, sản xuất, cần có cơ chế phối hợp và đầu mối xử lý thống nhất nhằm rút ngắn thời gian từ khi xác định nhu cầu đến khi vật tư được đưa vào sử dụng.

Tháo gỡ những vướng mắc trong bảo đảm vật tư kỹ thuật là hết sức quan trọng để xây dựng năng lực hệ sinh thái công nghiệp UAV trong nước phát triển bền vững. Đồng thời là cơ sở để Tổng cục CNQP tiến tới nghiên cứu, phát triển và sản xuất các chủng loại phương tiện không người lái hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trung tá, ThS. ĐÀM ĐỨC TRUNG

Phòng Vật tư, Bộ Tham mưu/Tổng cục Công nghiệp quốc phòng

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp.

2. Quyết định 2815/QĐ-TTg ngày 28/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.

3. Thông tư số 39/2025/TT-BQP ngày 5/6/2025 của Bộ Quốc phòng về Danh mục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với tàu bay không người lái, phương tiện bay khác.

4. Đề án nghiên cứu, sản xuất phương tiện không người lái trong Tổng cục Công nghiệp quốc phòng.

5. Đại tá, PGS, TS. Nguyễn Huy Hoàng, "Phương tiện bay không người lái và vai trò của tác chiến điện tử", NXB Quân đội nhân dân, năm 2022.

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại