Xây dựng "bản sắc" UAV Việt Nam

10/13/2026 4:13:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 198

CNQP&KT - Qua một số cuộc xung đột đang diễn ra trên thế giới cho thấy, việc nghiên cứu, phát triển phương tiện bay không người lái (UAV) là một trong những xu hướng ưu tiên hàng đầu trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng (CNQP) ở hầu hết các quốc gia và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

Trước khi bàn về những vấn đề cấp bách trước mắt cũng như chiến lược lâu dài trong lĩnh vực này, không thể không nhắc lại những bài học kinh nghiệm của các thế hệ tiền bối. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, có hơn 500 máy bay trinh sát không người lái của Mỹ đã bị bắn rơi trên bầu trời Việt Nam, trong đó có những chủng loại hiện đại nhất của Mỹ thời bấy giờ như Ryan AQM-34. Câu hỏi đặt ra là vì sao trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, gian khổ mà cha ông chúng ta lại có thể đánh thắng các chủng loại vũ khí công nghệ cao, trong đó có UAV của Mỹ? Điều này chỉ có thể lý giải bằng sự độc đáo, sáng tạo của tác chiến phòng không - không quân Việt Nam và sự đóng góp đặc biệt quan trọng của các chuyên gia kỹ thuật trong nghiên cứu, phát hiện ra điểm mạnh, điểm yếu trong tính năng chiến kỹ thuật của các loại UAV Mỹ.

Một dấu ấn quan trọng khác là vào năm 1972, lần đầu tiên Việt Nam đã tự lực thiết kế, chế tạo thành công xuồng phá thủy lôi điều khiển từ xa HDL9 (Đề án T5). Sáng tạo đột phá này đã được đưa ngay vào thực chiến, có khả năng tạo ra từ trường nhân tạo để kích nổ và rà quét các loại thủy lôi cảm ứng từ hoặc thủy lôi nổ chậm của Mỹ. Trước đó, công tác rà phá thủy lôi do Mỹ rải tại các luồng lạch để phong tỏa cảng Hải Phòng phải sử dụng các xuồng có người lái - một nhiệm vụ cảm tử vô cùng nguy hiểm. Ký ức về các chiến sĩ cảm tử qua chặng đường dài của lịch sử với 2 cột mốc mang tính biểu tượng cho sự truyền lửa: từ chế tạo bom ba càng trước đây tới nghiên cứu, phát triển các dòng sản phẩm UAV cảm tử ngày nay. Dòng chảy đó tiếp tục khơi nguồn động lực mới cho CNQP Việt Nam tiến về phía trước. Bởi những kinh nghiệm sáng tạo trong quá khứ vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên mới, khi CNQP Việt Nam đang nỗ lực vươn lên làm chủ nhiều chủng loại vũ khí thông minh, tích hợp hệ thống, trong đó có UAV.

 

Thủ trưởng Tổng cục CNQP xem một số loại UAV do Tổng cục nghiên cứu, sản xuất trưng bày  tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024.       Ảnh: NAM ANH

 

UAV quân sự mang đặc điểm chung của các chủng loại vũ khí tích hợp hệ thống và vũ khí thông minh. Nghiên cứu, phát triển UAV đòi hỏi sự kết hợp của rất nhiều lĩnh vực công nghệ, như: điều khiển tự động hóa, vật liệu, chế tạo linh kiện, cảm biến, truyền dẫn dữ liệu, thông tin liên lạc, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), hóa nổ, cơ khí chính xác… Chu kỳ xuất hiện các thế hệ UAV mới ngày càng rút ngắn, nhất là khi AI được ứng dụng sâu rộng trong quân sự.

Vai trò của UAV trong tác chiến ngày càng được đề cao hơn còn liên quan tới các cuộc chiến đang diễn ra tại Ukraine và Iran. Đối kháng UAV giữa các bên tham chiến đã từng bước định hình rõ nét về tầm quan trọng của UAV như một chủng loại vũ khí quy ước có ý nghĩa chiến lược. Trước hết, đây là chủng loại vũ khí có thể tác chiến đa mục tiêu, đa nhiệm vụ và đa môi trường. UAV được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên không, trên bộ và trên biển... Mục tiêu tấn công rất đa dạng: binh lính của đối phương, công sự, xe quân sự, hạm đội, quân cảng, đảo, tàu chiến, hạ tầng lưỡng dụng, nhà máy CNQP… UAV có thể thực hiện trinh sát, phát hiện, cảnh giới, chỉ thị mục tiêu, tạo nhiễu, nghi binh, trung chuyển dữ liệu, tấn công cảm tử, vận chuyển, hiệp đồng tác chiến, duy trì luật pháp trên sông, biển, làm mục tiêu huấn luyện, mồi bẫy để đối phương phát lộ mục tiêu. Những thế mạnh đó khiến UAV trở thành chủng loại vũ khí không thể thiếu trong chiến tranh hiện đại, làm chuyển đổi mạnh mẽ phương thức tác chiến hiệp đồng quân binh chủng thành tác chiến lấy mạng làm trung tâm; làm thay đổi về tổ chức lực lượng, quy trình lập kế hoạch tác chiến và ra quyết định. UAV còn góp phần làm cho các đường chiến tuyến trở nên "trong suốt" để mở rộng tấn công từ xa vào hậu phương của đối phương. Điều quan trọng và hiệu quả nhất chính là việc UAV thay thế con người và bảo vệ sinh mạng người lính trong nhiều nhiệm vụ chiến đấu nguy hiểm.

 

"Nghiên cứu, phát triển UAV phải được thực hiện trên cơ sở hoạch định một chiến lược lâu dài, có bước đi khả thi và giải pháp cụ thể, phù hợp với nội lực của CNQP Việt Nam".

(Thiếu tướng, PGS, TS. Đoàn Hùng Minh)

Bên cạnh đó, thực chiến UAV trên chiến trường cũng bộc lộ rất nhiều bài học kinh nghiệm về những thách thức cần giải quyết khi nghiên cứu, phát triển và khai thác sử dụng. Thiết kế và công nghệ UAV thay đổi rất nhanh, nhưng các phương tiện chế áp và vô hiệu hóa cũng liên tục được hoàn thiện nên chỉ sau vài tháng, thậm chí vài tuần, ưu thế UAV của mỗi bên tham chiến có thể bị đảo ngược. Những ưu điểm, hạn chế, lợi thế và nguy cơ trong nghiên cứu, phát triển UAV của thế giới là bài học rất thiết thực đối với CNQP Việt Nam. Để công tác nghiên cứu, phát triển UAV ngày càng hiệu quả hơn trong giai đoạn tới, đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, nghiên cứu, phát triển UAV phải được thực hiện trên cơ sở hoạch định một chiến lược lâu dài, có bước đi khả thi và cụ thể, tối ưu với nội lực của CNQP Việt Nam. Đánh giá khách quan thực trạng nghiên cứu, phát triển UAV trong gần 10 năm qua, bao gồm cả trong và ngoài Quân đội, UAV quân sự và UAV lưỡng dụng; làm rõ những hạn chế, tồn tại đang cản trở tiềm năng phát triển, như tính tự phát, phân tán nguồn lực, gắn kết lưỡng dụng còn hạn chế, tư duy dựa vào việc sao chép mẫu nước ngoài… Đặc biệt, cần có sự đột phá trong tháo gỡ những rào cản để khuyến khích kết nối hợp tác lưỡng dụng và tinh thần "Start-up - Khởi nghiệp" mạnh mẽ trong nghiên cứu, phát triển UAV.

 

 

Một loại UAV do Tập đoàn Viettel nghiên cứu, sản xuất.   Ảnh: CTV

 

Hai là, định hình rõ "bản sắc" của UAV Việt Nam. Thế mạnh của vũ khí Việt Nam nói chung và UAV nói riêng phải luôn bám sát sở trường độc đáo, sáng tạo, bí mật, bất ngờ của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Áp dụng yêu cầu này vào thiết kế, chế tạo UAV Việt Nam đặt ra bài toán cân đối vai trò giữa 2 yếu tố chiến thuật và kỹ thuật. Về mặt kỹ thuật, có thể tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, nhưng về chiến thuật thì nhất thiết phải đề cao sự độc đáo, sáng tạo riêng của Việt Nam để đưa vào "bộ não" của UAV. Ví dụ, trong nghiên cứu, phát triển UAV cảm tử, UAV trinh sát… phải ưu tiên tích hợp các tính năng chiến kỹ thuật gắn với sở trường cận chiến và thế mạnh của tác chiến đặc công Việt Nam, như: bí mật, bất ngờ, tinh nhuệ, mưu trí, táo bạo, đánh hiểm thắng lớn. Quá trình thiết kế, chế tạo UAV phải có sự song hành của đơn vị CNQP với các đơn vị có liên quan; cho phép đa dạng hóa khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ.

Ba là, về định hướng sản phẩm, nội lực của Việt Nam có thể nghiên cứu, phát triển cả 5 dòng sản phẩm chủ chốt gồm: UAV trinh sát và giám sát, UAV cảm tử, UAV chiến đấu, UAV đa năng và UAV dân sự. Quá trình nghiên cứu, phát triển các dòng UAV cần bảo đảm hiệu quả đa năng, đa mục tiêu, đa nhiệm vụ, module hóa, lưỡng dụng hóa… nhưng tiêu chí cao nhất vẫn là giành được niềm tin của bộ đội đối với UAV "Make in Vietnam".

 

Tổng cục CNQP và Tập đoàn Viettel đảm nhiệm vai trò dẫn hướng đột phá trong nghiên cứu, phát triển những công nghệ cốt lõi nhất của UAV; quy tụ mạng lưới cơ sở nghiên cứu, sản xuất vệ tinh và dịch vụ bổ trợ, nhóm nghiên cứu khoa học mạnh tầm cỡ quốc gia cùng thực hiện các mục tiêu chung.

 

Bốn là, rút ngắn chu trình nghiên cứu, phát triển UAV và tăng cường hiệu quả, tiết kiệm chi phí, giá thành nhờ tận dụng các mẫu thiết kế UAV dân sự, công nghệ lưỡng dụng. Trong các bước thử nghiệm đầu tiên, không nhất thiết phải đề ra mục tiêu tự chủ hoàn toàn công nghệ lõi, công nghệ nền hay khả năng chế tạo mọi linh kiện, chi tiết, bán thành phẩm của UAV. Lý do là tốc độ lạc hậu của các phiên bản UAV diễn ra rất nhanh, mà điểm cốt lõi trong nghiên cứu, phát triển lại là nhanh chóng đạt được tính năng chiến kỹ thuật mới của UAV để tiếp tục phát triển các phiên bản tiếp theo ưu việt hơn. Bên cạnh đó, cần tích cực hợp tác, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước trong đặt hàng chế tạo bán thành phẩm, thỏa thuận đối tác chiến lược, đầu tư góp vốn liên doanh, thực hiện dự án chung, hợp tác công tư, đầu tư mạo hiểm…

Năm là, tiến tới xây dựng hệ sinh thái lưỡng dụng liên quan tới chuỗi giá trị sản xuất công nghiệp UAV của Việt Nam trong tổng thể chung của quy hoạch mô hình tổ hợp CNQP Việt Nam. Hệ sinh thái đó sẽ bao gồm tất cả các yếu tố liên quan tới hạ tầng, chế độ, chính sách, nguồn lực đầu tư, nhân lực và các tác nhân chủ chốt tham gia vào phân công chuyên môn hóa trong chuỗi sản xuất UAV. Sự phát triển của bất kỳ lĩnh vực vũ khí mới nổi nào cũng rất cần có nhân tố "sếu đầu đàn" để dẫn hướng và tạo động lực cho việc tiếp cận, làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược, công nghệ lõi. Theo đó, Tổng cục CNQP và Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) phải đảm nhiệm vai trò dẫn hướng đột phá trong nghiên cứu, phát triển những công nghệ cốt lõi nhất của UAV; làm hạt nhân nòng cốt quy tụ, thu hút mạng lưới các cơ sở nghiên cứu, sản xuất vệ tinh và dịch vụ bổ trợ, nhóm nghiên cứu khoa học mạnh tầm cỡ quốc gia cùng tham gia thực hiện các mục tiêu chung.

Nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển UAV là mũi nhọn đột phá để hình thành thêm một chuyên ngành sản xuất mới liên quan tới các chủng loại vũ khí không người lái. Sáng tạo ra những phương tiện tác chiến hiệu quả, có thể đảm nhiệm những nhiệm vụ chiến đấu nguy hiểm nhất để thay thế và bảo vệ sinh mạng của người lính trên chiến trường là sứ mệnh cao cả để CNQP Việt Nam phát triển trong kỷ nguyên mới.

Thiếu tướng, PGS, TS. ĐOÀN HÙNG MINH 

Nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp quốc phòng

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại