Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự trong toàn quân, bảo đảm sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Quân đội. Trọng tâm là Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/1/2025 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội; Kế hoạch số 2812/KH-BQP ngày 22/5/2025 của Bộ Quốc phòng về triển khai thực hiện Chương trình hành động Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; Nghị quyết số 1658-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về công tác hậu cần Quân đội đến năm 2030 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 1656-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo công tác kỹ thuật đến năm 2030 và những năm tiếp theo...
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, công tác nghiên cứu khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự đã được tổ chức triển khai đồng bộ, thống nhất, toàn diện và có bước phát triển mới trên các lĩnh vực, phục vụ thiết thực, hiệu quả cho các hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng Quân đội hiện đại. Nổi bật là, đã triển khai nghiên cứu đồng bộ các chương trình, nhiệm vụ trọng điểm cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng về khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự; nhờ đó, 100% sản phẩm từ các chương trình, đề tài, nhiệm vụ được đưa vào sản xuất với tỷ lệ ứng dụng cao. Trình độ nghiên cứu cơ bản có bước phát triển mới, các sản phẩm đã từng bước tiếp cận với trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, một số lĩnh vực đang tiếp cận trình độ thế giới...
.jpg)
Thiếu tướng Dương Minh Hải, Cục trưởng Cục Khoa học quân sự/Bộ Quốc phòng (thứ 3 từ phải sang) tháp tùng Thủ trưởng Bộ Quốc phòng kiểm tra hồ sơ thiết kế xe tăng T-1 tại Nhà máy Z125. Ảnh: TUẤN MINH
Tuy nhiên, công tác nghiên cứu, phát triển khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự trong những năm qua vẫn còn có một số bất cập như: nhiệm vụ nghiên cứu chưa có quy hoạch đồng bộ, thống nhất, thời gian ứng dụng vào sản xuất còn chậm; chưa có cơ chế thử nghiệm sản phẩm sau nghiên cứu tại các đơn vị; trình độ nghiên cứu, nguồn lực và khả năng đảm bảo có mặt còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu do việc phối hợp trong nghiên cứu giữa các đơn vị trong và ngoài Quân đội chưa chặt chẽ; vẫn còn hiện tượng độc quyền, khép kín, thiếu hợp tác, trao đổi thông tin; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự chưa thật sự đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành.
Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; các nước lớn điều chỉnh chính sách quốc phòng, cạnh tranh chiến lược, chạy đua vũ trang, xung đột quân sự ngày càng quyết liệt; các cuộc xung đột quân sự ngày càng lan rộng và xuất hiện các loại hình tác chiến mới. Trong nước, cơ chế, chính sách về phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo có sự thay đổi mạnh mẽ; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đặt ra yêu cầu rất cao và toàn diện. Trước bối cảnh đó, đòi hỏi toàn quân phải tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự theo hướng linh hoạt, hiện đại, vững chắc; tập trung thực hiện hiệu quả một số định hướng chủ yếu sau:
Một là, chủ động tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác nghiên cứu, phát triển khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự. Tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về định hướng phát triển khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự; xây dựng nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ từng đơn vị. Tăng cường nghiên cứu cơ bản có định hướng, nghiên cứu công nghệ nền, công nghệ lõi và giải mã công nghệ, hướng đến sản phẩm mục tiêu có hàm lượng khoa học cao. Cụ thể hóa các nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu với lộ trình mang tính dài hạn thông qua chiến lược phát triển KHCN trong Bộ Quốc phòng. Đồng thời, làm tốt công tác xây dựng kế hoạch công tác KHCN và đổi mới sáng tạo để có định hướng, điều chỉnh phù hợp, kịp thời, sát với nhu cầu thực tế.
.jpg)
Các sản phẩm vũ khí công nghệ cao do ngành CNQP nghiên cứu chế tạo, trưng bày tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024. Ảnh: BẢO LÂM
Hai là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu dự báo, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế về phát triển khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự. Các trung tâm, viện nghiên cứu cần nâng cao khả năng dự báo, phát hiện những vấn đề mới, tạo bước đột phá trong ứng dụng tiến bộ KHCN, đặc biệt là ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào công tác nghiên cứu, phát triển khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự. Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học, nhất là các đề tài, nhiệm vụ trung hạn và dài hạn, hướng đến sản phẩm mục tiêu lớn, hàm lượng khoa học cao, giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với lĩnh vực hậu cần, kỹ thuật quân sự. Bên cạnh đó, phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong và ngoài Quân đội từng bước tự chủ sản xuất vật chất hậu cần, vật tư kỹ thuật. Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế về hậu cần, kỹ thuật quân sự, trọng tâm vào trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, đào tạo nguồn nhân lực. Các cục chuyên ngành, đơn vị quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại tăng cường hợp tác và chủ động đề xuất, triển khai liên doanh, liên kết với đối tác nước ngoài trong tổ chức bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, từng bước làm chủ, khai thác, sử dụng và sửa chữa VKTBKT mới.
Ba là, phát triển tiềm lực khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự, xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ cao thuộc các lĩnh vực trọng điểm, đặc thù, mũi nhọn. Tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng triển khai các chương trình, đề án đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội. Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học giỏi; đẩy mạnh đào tạo theo đơn đặt hàng phù hợp nhu cầu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo VKTBKT trong Quân đội; tăng cường cử cán bộ đi thực tập sinh tại các cơ sở nghiên cứu, sản xuất VKTBKT ở các nước tiên tiến để học hỏi, trau dồi kiến thức, kinh nghiệm. Hoàn thiện cơ chế, chính sách trọng dụng, đãi ngộ nhân tài để thu hút chuyên gia trong các ngành KHCN trọng điểm, nhất là các ngành công nghệ cao. Cùng với đó, đầu tư chiều sâu cho phát triển cơ sở vật chất, hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, đào tạo và dịch vụ KHCN; nâng cao năng lực cho cơ quan quản lý, tổ chức KHCN; quy hoạch và đầu tư chiều sâu phát triển cơ sở vật chất, hệ thống phòng thí nghiệm.
Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nghiên cứu phát triển khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự. Ứng dụng KHCN, chuyển đổi số trong công tác quản lý, chỉ huy, điều hành, nghiên cứu; xây dựng cơ sở dữ liệu về khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự. Đổi mới đồng bộ, hoàn thiện cơ chế quản lý, cơ chế chính sách để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu phát triển khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phù hợp với sự phát triển của thực tiễn nhiệm vụ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng tổ chức, biên chế Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, đòi hỏi công tác nghiên cứu khoa học hậu cần, kỹ thuật quân sự phải đổi mới, đi trước theo hướng linh hoạt, hiện đại, vững chắc, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Thiếu tướng, TS. DƯƠNG MINH HẢI
Cục trưởng Cục Khoa học quân sự/Bộ Quốc phòng