Thẩm quyền điều tra trong Quân đội góp phần kiến tạo thiết chế tư pháp chuyên biệt

9/2/2026 3:55:00 PM
0:00:00
Giọng Nữ
Lượt xem: 70

CNQP&KT - Dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026). Trong đó, vấn đề điều chỉnh thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự Quân đội thu hút nhiều sự quan tâm. Thực tiễn cho thấy, thẩm quyền điều tra trong Quân đội đã góp phần kiến tạo một thiết chế tư pháp chuyên biệt, vận hành ổn định và tích lũy năng lực thực thi qua thời gian. Những giá trị này cần được ghi nhận khi xem xét bất kỳ sự điều chỉnh nào đối với thiết chế hiện hành.

Từ yêu cầu khách quan của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và đặc thù tổ chức, hoạt động của Quân đội nhân dân Việt Nam, pháp luật hiện hành trao thẩm quyền điều tra cho cơ quan điều tra trong Quân đội là cơ quan tiến hành tố tụng độc lập, trực tiếp điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự. Tuy nhiên, với cơ chế "ủy thác điều tra" như đề xuất tại khoản 2 Điều 15 và khoản 2 Điều 17 dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi), hoạt động điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội sẽ bị giới hạn trong phạm vi nội dung được ủy thác của cơ quan điều tra của Công an nhân dân. Khi đó, cơ quan điều tra trong Quân đội sẽ không có thẩm quyền điều tra độc lập và cũng không được trao quyền đánh giá toàn diện chứng cứ, quyền chủ động xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội và kiến nghị phòng ngừa.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự được gắn với việc tổ chức thực hiện quyền tư pháp trong lĩnh vực quốc phòng. Giá trị của thẩm quyền này đảm bảo tính thống nhất của hệ thống tư pháp quân sự và cung cấp những thông tin thực tiễn phục vụ hoàn thiện công tác quản lý quốc phòng. Do vậy, việc sửa đổi các quy định về thẩm quyền điều tra không chỉ là vấn đề kỹ thuật lập pháp, mà còn liên quan trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước về quốc phòng, quản lý quân nhân, giữ vững kỷ luật Quân đội, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự và bảo đảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Thực tiễn hoạt động hiệu quả đã chứng minh sự cần thiết và giá trị tồn tại độc lập của cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội, biểu hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, giá trị nền tảng của một thiết chế tư pháp chuyên biệt.

Thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự Quân đội được hình thành nhằm bảo đảm thực thi quyền tư pháp trong lĩnh vực quốc phòng, phù hợp với đặc điểm tổ chức và yêu cầu quản lý của Quân đội nhân dân Việt Nam. Thẩm quyền điều tra gắn chặt với tổ chức của hệ thống tư pháp quân sự, quy trình tố tụng và cơ chế phối hợp. Việc thực hiện thẩm quyền đã tạo ra năng lực của thiết chế. Đội ngũ cán bộ được đào tạo theo yêu cầu và qua thực tiễn của hoạt động điều tra; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng được chuẩn hóa; phương pháp xử lý các tình huống được tích lũy và phát triển. Nhìn từ phương diện này, thẩm quyền điều tra trong Quân đội đã góp phần kiến tạo một thiết chế tư pháp chuyên biệt, có khả năng vận hành ổn định và tích lũy năng lực thực thi qua thời gian.

Phòng Điều tra hình sự Tổng cục Công nghiệp quốc phòng triển khai nhiệm vụ chuyên môn.    Ảnh: NGUYÊN KHÔI

Thứ hai, năng lực thực thi của hệ thống tư pháp quân sự.

Giá trị của một thiết chế được khẳng định khi tạo ra năng lực thực thi ổn định, thống nhất, thông suốt và hiệu quả. Trong hệ thống tư pháp quân sự, sự thống nhất được hình thành thông qua cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Quá trình phối hợp đó được bồi đắp qua thực tiễn giải quyết vụ án, qua việc thống nhất nhận thức pháp lý, phương pháp thu thập chứng cứ và cách thức xử lý những tình huống phát sinh. Thực tiễn cho thấy, mỗi vụ án đều phản ánh những vấn đề của công tác quản lý. Có vụ án chỉ ra sơ hở trong quy trình, có vụ lại bộc lộ khoảng trống của cơ chế kiểm soát hay những bất cập của quy định pháp luật... Nếu những thông tin này được tổng hợp, phân tích và phản hồi kịp thời, sẽ giúp các chủ thể tham gia tố tụng xác định rõ trách nhiệm, phương thức phối hợp và trình tự thực hiện. Đó là điều kiện để pháp luật được áp dụng thống nhất.

Thứ ba, hiệu quả quản trị quốc phòng.

Trên thực tế, mọi hoạt động điều tra đều diễn ra trong môi trường quản lý nhà nước. Vì vậy, kết quả điều tra không chỉ tác động đến việc giải quyết một vụ án cụ thể mà còn tác động đến chất lượng quản lý của cả hệ thống. Hoạt động điều tra tạo ra nguồn thông tin có giá trị đối với việc rà soát quy định, hoàn thiện quy chế, điều chỉnh quy trình và nâng cao hiệu quả phòng ngừa. Một nền quản trị hiện đại không chỉ xử lý hậu quả mà còn phải nhận diện và kiểm soát rủi ro. Trong lĩnh vực quốc phòng, yêu cầu này càng có ý nghĩa bởi nhiều hoạt động gắn với con người, trang bị, công nghệ và nguồn lực đặc thù. Thông qua hoạt động điều tra, những nguy cơ tiềm ẩn có thể được nhận diện sớm hơn. Các dạng vi phạm có tính lặp lại, những khoảng trống trong cơ chế kiểm soát hay những bất cập của quy trình quản lý đều có thể được phát hiện từ thực tiễn giải quyết vụ án. Nếu nguồn thông tin này được khai thác hiệu quả, sẽ góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro của cơ quan, đơn vị và của toàn hệ thống.

Thứ tư, bảo đảm sự vận hành thống nhất của hệ thống tư pháp quân sự.

Điều tra, truy tố và xét xử là ba khâu liên kết trong một quy trình thực hiện quyền tư pháp. Trong chỉnh thể đó, hoạt động điều tra giữ vị trí khởi đầu. Việc xác định đúng hướng điều tra, thu thập đầy đủ chứng cứ và làm rõ bản chất vụ việc quyết định chất lượng của giai đoạn truy tố và xét xử sau này. Bởi vậy, thẩm quyền điều tra tạo nền tảng cho sự vận hành thống nhất của cả hệ thống tư pháp quân sự. Sự thống nhất này được hình thành thông qua quá trình phối hợp lâu dài giữa Cơ quan điều tra hình sự, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Quá trình đó tạo nên cách thức phối hợp ổn định, thống nhất về nhận thức pháp lý và phương pháp giải quyết các tình huống phát sinh. Đây là giá trị mang tính thiết chế, được hình thành từ thực tiễn vận hành chứ không chỉ từ quy định của luật.

Năng lực thực thi quyền tư pháp không phải là kết quả của một quyết định phân công thẩm quyền. Năng lực đó được hình thành thông qua quá trình tổ chức thực hiện pháp luật. Đối với hoạt động điều tra trong Quân đội, quá trình tích lũy này gắn với đặc điểm tổ chức, chế độ chỉ huy, kỷ luật quân đội và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Chính việc thường xuyên giải quyết các vụ việc thuộc phạm vi tư pháp quân sự đã góp phần hình thành phương pháp nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng phối hợp phù hợp với môi trường quân sự. Điều cần nhấn mạnh là những giá trị này thuộc về thiết chế nhiều hơn thuộc về từng cá nhân. Cán bộ có thể thay đổi theo thời gian, nhưng nếu thiết chế được duy trì ổn định thì quy trình, kinh nghiệm, chuẩn mực nghề nghiệp và cơ chế phối hợp vẫn tiếp tục được kế thừa, góp phần tạo nên tính bền vững của năng lực thực thi quyền tư pháp trong lĩnh vực quốc phòng.

Giá trị của thẩm quyền điều tra trong Quân đội còn cần được nhìn nhận trong bối cảnh yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Một mặt, Quân đội phải nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Mặt khác, mọi hoạt động của Quân đội đều được tổ chức thực hiện trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Từ góc độ đó, thiết kế thẩm quyền điều tra không chỉ là vấn đề của tổ chức bộ máy mà còn là vấn đề của chất lượng thực thi quyền tư pháp trong lĩnh vực quốc phòng. Giá trị của một thiết chế không nằm ở số lượng thẩm quyền được giao, mà ở khả năng chuyển hóa thẩm quyền thành hiệu quả thực thi pháp luật. Hiệu quả đó được phản ánh qua chất lượng điều tra, tính khách quan của hoạt động tố tụng, hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và khả năng góp phần phòng ngừa vi phạm. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp cho thấy, chất lượng thực thi pháp luật phụ thuộc rất lớn vào vào tính ổn định của cơ chế vận hành. Một cơ chế phối hợp được hình thành qua thực tiễn, được kiểm nghiệm bằng hoạt động tố tụng và được hoàn thiện trong quá trình áp dụng pháp luật thường tạo ra khả năng xử lý thống nhất, hạn chế khác biệt trong nhận thức và góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án.

Hoàn thiện pháp luật là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển. Tuy nhiên, hoàn thiện không đồng nghĩa với thay đổi bằng mọi giá. Giá trị của một phương án sửa đổi nằm ở khả năng kế thừa, phát huy và nâng cao những giá trị mà thiết chế hiện hành đã tạo dựng. Chỉ khi việc đánh giá được đặt trên cơ sở khoa học, toàn diện và khách quan, quá trình hoàn thiện pháp luật mới thực sự góp phần nâng cao hiệu quả thực thi quyền tư pháp, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa và đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn mới.

Đại tá TRƯƠNG QUANG NGHĨA

Nguyên Trưởng phòng Điều tra hình sự Tổng cục Công nghiệp quốc phòng

Gửi bình luận thành công

Gửi bình luận thất bại