CNQP&KT - Sáp nhập, cổ phần hóa nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội (DNQĐ) đang được Bộ Quốc phòng tích cực triển khai.

Vấn đề đặt ra hiện nay là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con như thế nào để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển bền vững, hiệu quả sau khi sáp nhập, cổ phần hóa?

Lực lượng của Tổng công ty Xây dựng Lũng Lô thi công một công trình phục vụ dân sinh.  Ảnh: CTV

Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế, Đảng, Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; trong đó, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước là một khâu đột phá chiến lược. Trong bối cảnh đó, việc cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNQĐ tiếp tục được đẩy mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 425-NQ/QUTW ngày 18/5/2017 của Quân ủy Trung ương “Về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, Đề án “Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bộ Quốc phòng xác định, từ nay đến năm 2020, cần phải cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNQĐ, với mục tiêu giảm mạnh đầu mối doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng, chỉ tập trung vào những ngành, lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Đẩy mạnh thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh (SXKD) thuần túy, thương mại, xây dựng, dịch vụ…; đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của DNQĐ; bảo đảm sự phát triển ổn định, lâu dài của các DNQĐ; đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp quốc phòng (CNQP) của đất nước và phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kết quả của quá trình này là hình thành nhiều loại hình DNQĐ mới, trong đó có tổng công ty, doanh nghiệp cổ phần. Vấn đề đặt ra là, cần phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển bền vững, hiệu quả sau khi đã cổ phần hóa và sáp nhập.

Thứ nhất, về mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, có sản nghiệp riêng (pháp nhân kinh tế đầy đủ); công ty mẹ có lợi ích kinh tế nhất định liên quan đến hoạt động của công ty con; công ty mẹ chi phối đối với các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty con thông qua một số hình thức, như quyền bỏ phiếu chi phối đối với các quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm hội đồng quản trị, ban lãnh đạo hoặc quyền tham gia quản lý, điều hành. Vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và mang tính tương đối, tức công ty con này có thể là công ty mẹ của một công ty khác (tính tương đối này càng nổi bật hơn trong trường hợp các công ty trong một nhóm có nắm giữ vốn cổ phần qua lại của nhau). Trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con là trách nhiệm hữu hạn; về mặt lý thuyết, quan hệ này sẽ tạo cho cơ cấu tổ chức của các công ty trong nhóm có chiều sâu không hạn chế… Việc chuyển sang mô hình mẹ - con là hệ quả tất yếu, bởi thực tế đang đặt ra vấn đề chuyển đổi cổ phần hóa các liên doanh, quá trình góp vốn với các doanh nghiệp khác. Do quá trình tự do hóa kinh doanh, một công ty góp vốn ra bên ngoài tất yếu dẫn đến một doanh nghiệp phải nắm cổ phần của doanh nghiệp khác. Chuyển sang mô hình mẹ - con, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong hoạt động. Chẳng hạn, cơ chế cấp phát, giao nhận sẽ chuyển sang đầu tư trên cơ sở hợp đồng kinh tế; chuyển hoạt động chi phối từ mệnh lệnh hành chính sang sở hữu vốn, công nghệ, thị trường…

Thứ hai, những vấn đề  đặt ra sau khi cổ phần hóa và sáp nhập.

Trong Quân đội, các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ và công ty con được hình thành chủ yếu từ việc sáp nhập các công ty nhỏ vào công ty lớn theo sự bố trí, sáp nhập, hợp nhất.

Vấn đề hàng đầu đặt ra sau cổ phần hóa, sáp nhập và giải thể của các DNQĐ đó là, giải quyết lực lượng lao động dôi dư. Đây là vấn đề hết sức phức tạp, gây cản trở lớn đối với các doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa, sáp nhập và giải thể, nếu không giải quyết tốt sẽ để lại những hậu quả xã hội lớn. Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cần chỉ đạo các DNQĐ bám sát Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) và Nghị quyết số 425-NQ/QUTW để triển khai thực hiện. Quá trình thực hiện, các doanh nghiệp cần bám sát mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, phương án cơ cấu đã được phê duyệt; chủ động chuẩn bị kỹ lưỡng, tiến hành thận trọng nhưng khẩn trương, quyết liệt và có giải pháp toàn diện, đột phá, khả thi cao. Cần làm tốt công tác giáo dục tư tưởng cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, người lao động trong các DNQĐ nhận thức sâu sắc về sự cần thiết cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNQĐ.

Đi đôi với công tác tư tưởng, tổ chức, các cơ quan, đơn vị có doanh nghiệp thuộc diện cơ cấu lại cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác chính sách trong sắp xếp, đổi mới. Theo đó, các đơn vị, doanh nghiệp cần khẩn trương rà soát, xây dựng phương án tổ chức biên chế, bố trí, sắp xếp việc làm; phương án giải quyết số lao động dôi dư... đảm bảo phù hợp với lộ trình sắp xếp, đổi mới và các quy định của pháp luật. Giải quyết tốt chính sách đối với người lao động ở các doanh nghiệp cổ phần hóa, nhất là đối với quân nhân và công nhân viên chức quốc phòng; thực hiện tốt chính sách bán cổ phần ưu đãi cho người lao động, động viên người lao động tiếp tục làm việc và gắn bó lâu dài với công ty cổ phần. Quá trình tiến hành, cần công khai phương án sắp xếp, điều động, luân chuyển; có chính sách ưu tiên bố trí, sử dụng cán bộ, nhân viên, người lao động đang làm việc có phẩm chất, năng lực tốt, giàu kinh nghiệm, có nguyện vọng tiếp tục gắn bó với doanh nghiệp. Đồng thời, triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách hiện hành, cũng như chủ động phát hiện, đề xuất điều chỉnh, bổ sung và ban hành mới các chế độ, chính sách phù hợp với quy định của Nhà nước, Bộ Quốc phòng, sự phát triển của thực tiễn, nhằm động viên cả về vật chất, tinh thần đối với quân nhân, người lao động, nhất là số phải chuyển ra, đảm bảo cho họ ổn định tư tưởng, cuộc sống...

Một vấn đề cần được quan tâm đó là, cổ phần hóa và sáp nhập sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của công ty mẹ và công ty con? Xung quanh vấn đề này, có ý kiến cho rằng, sau sáp nhập, sự tăng trưởng của công ty mẹ sẽ bị ảnh hưởng, bởi phải chia sẻ trách nhiệm đối với công ty con, điều đó làm người lao động lo ngại về hiệu quả của vốn đầu tư và tỷ suất lợi tức thu được hằng năm. Đây là sự lo lắng chính đáng, cần phân tích, nghiên cứu khách quan, toàn diện mối quan hệ giữa công ty mẹ - con. Trường hợp của các doanh nghiệp CNQP, sau quá trình hợp nhất, sáp nhập sẽ hình thành các tổng công ty, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con. Các công ty con dù thực hiện hạch toán độc lập hay phụ thuộc thì nhiệm vụ chính trị hàng đầu vẫn là sản xuất quốc phòng theo các chỉ tiêu pháp lệnh; còn sản xuất kinh tế do các doanh nghiệp tự chủ động theo cơ chế thị trường. Nếu hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con thì định hướng trong đầu tư, phát triển SXKD vẫn phải là tổng công ty, còn trực tiếp triển khai hoạt động SXKD do đơn vị thành viên thực hiện. Ở đây, cần hết sức tránh xu hướng: Công ty con hoàn toàn lệ thuộc vào công ty mẹ, dẫn đến tình trạng thụ động, ỷ lại công ty mẹ trong hoạt động SXKD, dẫn tới hiệu quả hoạt động thấp đi. Bên cạnh đó, nếu sau khi hợp nhất, sáp nhập mà tổng công ty “bao tiêu” toàn bộ công việc cho các đơn vị thành viên sẽ rất khó khăn và gây áp lực lớn cho công ty mẹ. Trong quản trị doanh nghiệp hiện đại, điều cần thiết là tăng cường hành lang pháp lý, định hướng bằng cơ chế, chính sách và tăng trách nhiệm, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho bên dưới...

Về mối quan hệ hoạt động kinh doanh giữa công ty mẹ và công ty con, Luật Doanh nghiệp (năm 2014), chỉ rõ: “Công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, có sản nghiệp riêng (pháp nhân kinh tế đầy đủ).” Điều đó cho thấy, xét về pháp nhân kinh tế, công ty mẹ và công ty con có tư cách pháp nhân như nhau, bình đẳng trước pháp luật. Do đó, đối với các DNQĐ thực hiện cổ phần hóa, hoạt động của công ty con mang tính độc lập, tự chịu trách nhiệm về đầu vào, đầu ra của sản phẩm cũng như hiệu quả SXKD. Lợi nhuận của doanh nghiệp được phân chia thành các khoản theo luật định, lợi tức được thực hiện thông qua sự thống nhất của Hội đồng quản trị và đại hội cổ đông. Lẽ đương nhiên, công ty con không lệ thuộc công ty mẹ và công ty mẹ không bị ảnh hưởng bởi tính hiệu quả kinh doanh cao hay thấp của công ty con.Trục phát triển xuyên suốt của các DNQĐ sau cổ phần hóa, sáp nhập, là kết hợp kinh tế với quốc phòng, nâng cao hiệu quả SXKD. Do đó, DNQĐ cần phát huy tối đa thế mạnh về quốc phòng để phát triển kinh tế, đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế phải luôn chú ý nâng cao năng lực sản xuất quốc phòng. Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, đầu tư đổi mới công nghệ là vấn đề cốt lõi tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ cho doanh nghiệp, giữa công ty mẹ và công ty con nếu phối hợp chặt chẽ và khai thác tốt thế mạnh của nhau, thì tốc độ tăng trưởng sẽ không ngừng tăng cao.

Có thể nói, mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con đã được xác định rất rõ trong Luật Doanh nghiệp (năm 2014).Các doanh nghiệp nhà nước, DNQĐ trong quá trình thực hiện cổ phần hóa, sáp nhập đều có những khó khăn, vướng mắc nhất định. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng, những vấn đề này sẽ từng bước được giải quyết. Yêu cầu hàng đầu là các doanh nghiệp nói chung và DNQĐ nói riêng cần giữ vững định hướng, nỗ lực vươn lên, ổn định và phát triển trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

Đại tá, PGS, TS. HOÀNG MINH THẢO

Bình luận


Họ và tên:*

Đơn vị:     

Điện thoại:*               

Email:*                       

Nội dung: