CNQP&KT - Hệ thống tên lửa phòng không vác vai (MANPADS) là một thành phần chủ chốt của hệ thống phòng không tầm thấp (SHORAD). Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ quân sự, hệ thống này đang có những bước phát triển mạnh mẽ.

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

Hệ thống MANPADS đã trải qua quá trình phát triển hơn 70 năm với ba thế hệ.

Thế hệ đầu tiên với những tên lửa nổi bật như Redeye (Mỹ), SA-7 (Liên Xô trước đây), Blowpipe (Anh)… sử dụng đầu dẫn hồng ngoại không làm lạnh, không lọc được nhiễu hồng ngoại nên dễ bị đánh lừa; độ nhạy và tốc độ bay thấp, uy lực sát thương kém; chỉ có thể bám theo nguồn nhiệt phát ra từ máy bay, không có khả năng bắn đón, chủ yếu dùng để chống các mục tiêu bay thấp với vận tốc khoảng 900km/giờ. Tên lửa Redeye được Mỹ triển khai nghiên cứu từ năm 1949, năm 1954 sản xuất loạt nhỏ và đến năm 1956 đưa vào sản xuất loạt để trang bị cho Lục quân và Hải quân đánh bộ Mỹ. Không lâu sau, Anh và một số nước khác bắt đầu nghiên cứu phát triển loại tên lửa này. Trong Chiến tranh Trung Đông lần thứ ba (năm 1967), Quân đội Ai Cập đã sử dụng SA-7 do Liên Xô chế tạo bắn rơi 6 trong tổng số 10 chiếc máy bay của I-xra-en ở khu vực kênh đào Xuy-ê.

Thế hệ 2 được phát triển từ đầu những năm 1970, đến đầu những năm 1980 đưa vào sử dụng, như Stinger (Mỹ), SA-14 và SA-16 (Liên Xô)... Do được trang bị thêm hệ thống nhận biết “địch - ta”, đầu tìm hồng ngoại tương đối tiên tiến, xen-xơ PbS làm lạnh có khả năng tác chiến toàn phương vị, đến nay, loại tên lửa này vẫn còn trong trang bị của quân đội nhiều nước trên thế giới.

Thế hệ 3 ra đời vào những năm 1990, tiêu biểu có Stinger RMP (Mỹ) và Mistral (Pháp). Đặc trưng của thế hệ này là được dẫn đường bằng tạo ảnh hồng ngoại, khả năng chống nhiễu mạnh; có khả năng trinh sát phát hiện, bám đuổi và ghi nhớ các đặc trưng bên ngoài của mục tiêu; đầu tìm nhiều chức năng, tác chiến đồng thời ở dải hồng ngoại và tử ngoại. Bộ truyền cảm của tên lửa này có thể nhận biết được đặc trưng tín hiệu hồng ngoại, tốc độ của mục tiêu, nhờ đó nâng cao xác suất trúng đích.


Binh sĩ Mỹ sử dụng hệ thống FIM-92 Stinger.    Ảnh: Internet

Cuối thập niên 1990, nhiều nước trên thế giới (chủ yếu là Mỹ, Nga, Anh, Pháp) đã sản xuất 470.000 quả tên lửa phòng không vác vai. Trong cuộc chiến Cô-xô-vô (1998-1999), Nam Tư đã sử dụng 106 tên lửa phòng không vác vai cùng với pháo phòng không để bắn hạ 2 máy bay F-117A và F-16, cản phá 238 tên lửa hành trình của Mỹ. Với những ưu điểm vượt trội như gọn nhẹ, cơ động, khả năng tàng hình tốt, tấn công bất ngờ, độ chính xác cao, dễ sử dụng, giá thành thấp, tên lửa phòng không vác vai trở thành mối uy hiếp lớn trong chiến tranh du kích và hoạt động khủng bố.

Trong tác chiến hiện đại, hệ thống tên lửa phòng không vác vai được sử dụng để tiêu diệt các máy bay tầm thấp và rất thấp, vũ khí trang bị công nghệ cao, như: tên lửa hành trình, phương tiện bay không người lái (UAV), bom, đạn có điều khiển...

Hiện nay, tên lửa phòng không vác vai thế hệ 4 đang được phát triển theo hướng “thông minh hóa” với những tính năng tiên tiến hơn, có khả năng bắn ở tất cả các hướng, góc; đầu tìm có thể tiếp nhận dữ liệu điều khiển của mục tiêu bằng các xen-xơ bên ngoài. Theo các chuyên gia công nghệ quân sự thế giới, xu hướng phát triển của tên lửa phòng không vác vai hiện nay là: Giảm rủi ro cho xạ thủ cả về thời gian tìm kiếm, bắt và bắn mục tiêu; cải thiện khả năng nhận biết “địch - ta”, nâng cao độ tin cậy để chúng có thể tác chiến với mục tiêu trên không ngoài tầm quan sát; nâng cao tính cơ động chiến thuật và chiến lược; tăng cường các hệ thống nhỏ gọn nhẹ, khả năng cao hơn để đối phó với số lượng ngày càng tăng của các phương tiện tấn công đường không đơn giản; mô-đun hóa kết cấu để tăng tính kinh tế...


Tên lửa Igla-S 9M342.        Ảnh: Internet

MỘT SỐ HỆ THỐNG TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG VÁC VAI ĐIỂN HÌNH

FIM-92 Stinger: Hệ thống này do Lục quân Mỹ phát triển trên cơ sở tên lửa Redeye, đưa vào trang bị tháng 2/1981, sau đó tiếp tục cải tiến thành Stinger Post (năm 1987) và Stinger RMP (năm 1989). Stinger có tầm bắn 5,6km, có thể mang vác hoặc lắp trên các loại xe chiến đấu, gồm 2 kiểu: kiểu cơ bản có đầu tìm hồng ngoại toàn phương vị, độ nhạy khá cao, có khả năng bám đuổi theo nguồn nhiệt hoặc bức xạ hồng ngoại trên bề mặt mục tiêu để tiến hành đánh chặn; kiểu cải tiến, sử dụng đầu tìm quang học thụ động làm việc ở 2 chế độ: hồng ngoại (trinh sát phát hiện và bám các mục tiêu phát nhiệt) và tử ngoại (xạ thủ căn cứ vào tín hiệu tử ngoại để phóng tên lửa). Sau khi phóng ra khỏi ống phóng, tên lửa có thể căn cứ tín hiệu hồng ngoại, tự động bám hoặc đánh chặn mục tiêu nên nâng cao được hiệu quả tác chiến. Hiện nay, trên cơ sở Stinger Post, Mỹ đã nghiên cứu phát triển thành kiểu Stinger RMP II, chủ yếu cải tiến và lắp thêm thiết bị vi xử lý có thể thay đổi chương trình hoạt động theo phương thức điều khiển từ xa, dẫn đường bằng ảnh hồng ngoại… Đối với mục tiêu bức xạ hồng ngoại thấp, thiết bị trinh sát tử ngoại của Stinger có thể tự tiến hành sục sạo và điều khiển theo từng giai đoạn. Ngoài ra, Stinger RMP II còn có khả năng xuyên giáp, gây nổ bên trong thân máy bay, giúp nâng cao hiệu quả tác chiến, trở thành hệ thống tên lửa phòng không vác vai tiên tiến nhất hiện nay.

Với những ưu điểm vượt trội, như: gọn nhẹ, cơ động, khả năng tàng hình tốt, tấn công bất ngờ, độ chính xác cao, dễ sử dụng, giá thành thấp… tên lửa phòng không vác vai trở thành mối uy hiếp lớn trong chiến tranh du kích và hoạt động khủng bố.

Igla-M (SA-18): Igla-M là tên lửa “bắn - quên” do Liên Xô nghiên cứu phát triển, được đưa vào trang bị năm 1983; tầm bắn từ 500 - 5.200m, có thể bắn hạ mục tiêu ở độ cao từ 10m đến 2.500m, tốc độ 2.592km/giờ, có khả năng chống nhiễu mạnh. Igla-M sử dụng đầu tìm 2 chế độ, gồm 2 đường truyền dữ liệu được kết nối với nhau và sử dụng kết cấu siêu nhỏ, vừa giảm được khối lượng, vừa nâng cao độ tin cậy và xác suất trúng đích, bảo đảm cho tên lửa có thể tấn công chính xác máy bay của đối phương trong môi trường nhiễu hồng ngoại mạnh. Igla-M có thể đối phó hiệu quả với máy bay tốc độ siêu âm, các loại máy bay có thể tự động gây nhiễu hồng ngoại; được phóng ở trận địa bố trí sẵn hay trên các phương tiện cơ động trên bộ, thời gian triển khai chiến đấu ngắn (khoảng 10 giây). Tên lửa này còn có thể dùng xung tín hiệu để tách tín hiệu sai lạc và dùng phương thức tự động lái tên lửa đến mục tiêu. Phần chiến đấu của tên lửa có nhiều cấp bảo hiểm, ngoài chức năng tự hủy còn có biện pháp gây nổ lượng thuốc còn dư để tăng uy lực sát thương và có chức năng nổ ở độ sâu, nổ bên trong mục tiêu, nâng cao hiệu quả sát thương.

Igla-S (SA-24 Grinch): Là hệ thống tên lửa phòng không vác vai mới nhất của Nga, được trang bị đầu tự dẫn hồng ngoại và tử ngoại sóng dài, thiết bị điện tử hiện đại hóa, hoàn toàn số hóa. Qua thử nghiệm cho thấy tính năng sử dụng rất cao, hiệu quả sát thương vượt trội so với Igla-M, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, môi trường; bắn được ở mọi vị trí, có gắn thiết bị nhìn đêm. Ưu thế nổi bật của Igla-S là lắp 2 ngòi nổ tiếp xúc và không tiếp xúc. Theo các chuyên gia quân sự Nga, Igla-S có thể thay cho 2 - 3 chiếc Igla-M, tính năng hơn hẳn các kiểu khác cùng loại, kể cả Stinger.


Hệ thống tên lửa phòng không vác vai Mistral.       Ảnh: Internet

RBS-90: Đây là loại tên lửa phòng không tầm thấp dẫn đường bằng la-de do Thụy Điển nghiên cứu phát triển và đưa vào trang bị năm 1991. Tên lửa có vận tốc tối đa 2.592km/giờ, có thể bắn hạ các mục tiêu bay ở độ cao khoảng 5.000m. Ưu điểm nổi bật của RBS-90 là khi bám mục tiêu có sự hỗ trợ của ra-đa chuyên dụng và hệ thống chỉ huy kiểm soát phức hợp, vừa dẫn đường, vừa sử dụng ngòi nổ cận đích la-de nên có thể đối phó hiệu quả với các thủ đoạn gây nhiễu của đối phương. Mặt khác, do sử dụng động cơ “không khói”, quá trình tác chiến không sinh ra bức xạ nhiệt, nên nó có khả năng sống sót rất cao. Ngoài ra, RBS-90 còn được trang bị kính ngắm ảnh nhiệt, có khả năng tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết, cả ngày và đêm.

Mistral: Năm 1980, Pháp bắt đầu nghiên cứu phát triển hệ thống tên lửa phòng không vác vai Mistral và đưa vào trang bị năm 1990. Tên lửa này có vận tốc tối đa 3.900km/giờ, tầm bắn xa nhất 6.000m, có thể bắn hạ các mục tiêu bay ở độ cao 4.500m. Mistral sử dụng đầu tìm hồng ngoại tiên tiến hơn của Igla-M và Stinger Post; có khả năng trinh sát, phát hiện và bám đuổi các loại mục tiêu “tàng hình” hồng ngoại từ mọi góc độ và có thể tác chiến toàn phương vị. Ngoài ra, Mistral còn sử dụng ngòi nổ cận đích la-de và đầu đạn phá mảnh kiểu mới (chứa 1.850 mảnh đạn xuyên giáp bằng hợp kim vonfram, vận tốc của mảnh đạn khoảng 1.500m/giây, bán kính sát thương hiệu quả 3m).

FN-6: FN-6 là kiểu tên lửa có khả năng “bắn - quên”, do Công ty Xuất nhập khẩu cơ khí chính xác Trung Quốc nghiên cứu phát triển. Hệ thống FN-6 nặng 16kg, đường kính 70mm, dài 1.405m; tầm bắn xa nhất 5.000m, có thể tiêu diệt các mục tiêu bay ở độ cao từ 15m đến 3.000m; tốc độ cản phá mục tiêu từ phía trước 360m/giây, bắn đuổi 300m/giây, xác suất cản phá là 70%. Động cơ đẩy của tên lửa gồm động cơ phụ và động cơ nhiên liệu rắn; khi động cơ phụ cháy hết rơi xuống, động cơ rắn được điểm hỏa. Hệ thống có 4 đơn nguyên phát hiện hồng ngoại, có năng lực chống nhiễu hồng ngoại. Trên ống phóng FN-6 có kính ngắm quang và thiết bị nhận biết “địch - ta”. Hệ thống có thể lắp đặt trên xe, máy bay trực thăng, tàu chiến… Ngoài ra, Tổng công ty Khoa học vũ trụ không gian và Công nghiệp Trung Quốc (COSIC) đang nghiên cứu phát triển hệ thống tên lửa phòng không vác vai QW-4. Theo các chuyên gia quân sự, so với FN-6, hệ thống này có một bước tiến nhảy vọt về công nghệ do lần đầu tiên các nhà thiết kế Trung Quốc sử dụng hệ thống dò tìm hình ảnh bằng hồng ngoại (IIR). QW-4 có tầm bắn xa nhất 6.000m, tiêu diệt được các mục tiêu bay ở độ cao 4.000m; có khả năng chống lại các mục tiêu bay tầm thấp và rất thấp.

Có thể thấy, để bảo đảm phòng không vững chắc cho an ninh quốc gia, nhất thiết phải xây dựng đồng bộ lực lượng phòng không ở tất cả các cự ly, đặc biệt là lực lượng phòng không tầm thấp. Trên thế giới, hệ thống tên lửa phòng không vác vai đang ngày càng được phát triển và thực sự trở thành mối uy hiếp lớn đối với các phương tiện bay trong các cuộc xung đột vũ trang.

                Đại tá LÊ VĂN THÀNH 

(Theo tài liệu nước ngoài)

Bình luận


Họ và tên:*

Đơn vị:     

Điện thoại:*               

Email:*                       

Nội dung: