CNQP&KT - Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 -1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, với tinh thần “Tất cả cho chiến thắng”, ngành Quân giới đã chủ động khắc phục mọi khó khăn, thiếu thốn, nghiên cứu sản xuất, sửa chữa được nhiều loại vũ khí, khí tài trang bị cho quân và dân ta đánh địch.

Sau Chiến dịch Biên giới 1950 thắng lợi, biên giới được khai thông, bộ đội ta được trang bị nhiều vũ khí do các nước xã hội chủ nghĩa anh em chi viện. Vì vậy, từ năm 1951, theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Quân giới phía Bắc ngừng sản xuất 9 loại vũ khí, trong đó có bom phóng, súng và đạn cối... nhưng các loại vũ khí như mìn, lựu đạn, đạn AT, bộc phá, các bộ phận thay thế của súng pháo được tăng cường sản xuất theo yêu cầu tác chiến. Năm 1953, sản xuất mìn, lựu đạn, bộc phá tiếp tục tăng so với năm 1952 (lựu đạn tăng 63%, mìn tăng 53%, bộc phá tăng 57%). Sang năm 1954, Quân giới chỉ tập trung sản xuất mìn, lựu đạn, quân cụ và các bộ phận thay thế của súng, pháo, đáp ứng yêu cầu tác chiến trên các chiến trường, nhất là trên mặt trận Điện Biên Phủ.

Về sản xuất quân cụ (chủ yếu là dao, cuốc, xẻng, búa...), các cơ sở Quân giới đã tích cực tổ chức các lò rèn, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hạ định mức lao động và vật tư, tăng năng suất lao động. Trong 2 năm (1953-1954), Quân giới phía Bắc đã sản xuất được gần 100.000 chiếc xẻng, 45.000 chiếc cuốc... đáp ứng kịp thời yêu cầu cấp thiết trong đào, đắp công sự, hầm hào tác chiến.

Sản xuất bộ phận thay thế súng, pháo lúc này được quan tâm đẩy mạnh, nhằm đáp ứng yêu cầu sửa chữa tại các xưởng và ở đơn vị. Song công nghệ sản xuất các chi tiết bộ phận súng pháo phải qua nhiều công đoạn, từ tạo phôi, gia công cơ khí, nhiệt luyện... đặc biệt là phải có mẫu hoặc bản vẽ kỹ thuật. Trong khi đó, cơ quan cấp trên thường chỉ ghi tên chi tiết đưa vào kế hoạch sản xuất, vì vậy các xưởng Quân giới gặp rất nhiều khó khăn trong công tác nghiên cứu, chế tạo. Để chế tạo thành công các chi tiết súng, pháo, các xưởng Quân giới phải cử cán bộ kỹ thuật đến kho quân khí hoặc đơn vị xem mẫu, rồi đo đạc, tính toán kích thước, lập bản vẽ kỹ thuật, xác định công nghệ và loại thép sản xuất từng bộ phận của sản phẩm.


Sửa chữa pháo 105mm trong kháng chiến chống Pháp.  Ảnh: TL

Vượt lên mọi khó khăn, từ năm 1952, các xưởng Quân giới đã sản xuất thành công 260 loại chi tiết với hàng nghìn sản phẩm, bộ phận thay thế của súng, pháo. Năm 1954, sản xuất được 400 loại, với hơn 50.000 sản phẩm. Các Xưởng Z1, Z6, X22, X23... đã phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để tăng năng suất lao động, rút ngắn thời gian sản xuất kim hỏa của súng cối, díp súng ngắn, díp M trong hộp tiếp đạn súng trường, đầu ruồi, thông nòng súng đại liên... Đặc biệt, trong thời gian này, nhiều xưởng Quân giới đã sản xuất thành công các bộ phận thay thế của súng pháo, đây là bước tiến vượt bậc về công nghệ của ngành Quân giới trong điều kiện thời chiến khó khăn, thiếu thốn mọi bề.

Về sửa chữa vũ khí, thời điểm đó bộ đội được trang bị các loại pháo cao xạ 37mm, pháo mặt đất 105mm... và tác chiến liên tục trong các chiến dịch lớn, tỷ lệ pháo hư hỏng cao. Khó khăn lớn nhất trong sửa chữa pháo là thiếu dụng cụ, thiết bị chuyên dùng, thiếu thợ hiểu biết sâu về cấu tạo của pháo. Xưởng Z1 có 25 thợ, chỉ có 13 người mới qua học nghề; X23 không có thợ sửa súng pháo tay nghề khá; X25 khi nhận sửa súng pháo mới đào tạo thợ; X22 có 5 thợ sửa súng pháo tay nghề khá. Trong khi đó, thời gian sửa chữa không thể dự kiến trước, thường là đột xuất. Tuy vậy, trước đòi hỏi của mặt trận, cán bộ, công nhân các xưởng Quân giới đã khắc phục mọi khó khăn, sửa chữa kịp thời các khẩu pháo bị hỏng đáp ứng yêu cầu tác chiến của bộ đội trên chiến trường.

Cán bộ, công nhân, chiến sĩ ngành Quân giới đã nỗ lực vượt bậc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

 Về sản xuất lựu đạn và mìn, năm 1953, các xưởng Quân giới đều đạt sản lượng lớn. Quân giới Liên khu 3, 4 đạt sản lượng vượt chỉ tiêu kế hoạch trên giao. Tháng 10/1953, Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần) giao cho Sở Quân giới Liên khu 3, 4 nhiệm vụ đột xuất là trong 2 tháng sửa chữa lại 30.000 quả lựu đạn do các đơn vị chuyển đến. Một công trường bên bờ sông Mực (Thanh Hóa) được thành lập, làm việc ngày đêm để thực hiện nhiệm vụ này, nên chưa đầy 2 tháng đã hoàn thành nhiệm vụ. Nguyên vật liệu sản xuất lúc này có nhiều khó khăn, nhất là gang để sản xuất lựu đạn và mìn, theo yêu cầu rất lớn của chiến trường. Kế thừa kinh nghiệm xây dựng lò nhỏ sản xuất gang của Sở Kỹ nghệ Trung Bộ (do kỹ sư Võ Quý Huân chỉ đạo) và xưởng Phan Bội Châu (ở Thái Nguyên), Liên khu 4 đã tập hợp đội ngũ công nhân tay nghề vững, do đồng chí Trịnh Tam Tỉnh phụ trách; máy móc thiết bị được Cục Quân giới điều từ Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An... về khu vực Bến Sung, Bến Mực (Thanh Hóa) để xây dựng lò cao Như Xuân. Năm 1952, lò cao Như Xuân sản xuất hơn 200 tấn gang, năm 1953 được 100 tấn và 7 tháng đầu năm 1954 được 100 tấn. Ngoài ra, Quân giới còn tổ chức một số lò luyện thép ở Bản Thi (Tuyên Quang); sản xuất các loại a-xít để điều chế fuminát thủy ngân, khai thác diêm tiêu để sản xuất thuốc nổ đen, a-xít nitơríc... bảo đảm nguồn vật tư phục vụ công tác chế tạo và sửa chữa vũ khí.

Đặc biệt, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, các xưởng Quân giới đã khắc phục khó khăn, nghiên cứu chế tạo thành công trục máy tống đạn, bướm tống đạn, cán ngoắc pháo cao xạ 37mm, kim hỏa súng phòng không 12,7mm để kịp thời sửa chữa, thay thế các bộ phận của súng pháo bị hỏng hóc. Tại mặt trận, các trạm sửa chữa Quân giới còn sản xuất cuốc chim, cuốc, xẻng phục vụ sửa đường, làm hầm hào, công sự, xiết chặt vòng vây, tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ.

Với tinh thần “Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, cán bộ, công nhân, chiến sĩ ngành Quân giới đã nỗ lực vượt bậc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Thiếu tá NGÔ MẠNH THẮNG

Học viện Hậu cần

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lịch sử Quân giới Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Lao động, H.1990, tr.145-1950.

2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập hồi ký, Nxb QĐND, H.2006, tr.891.

3. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb QĐND, H.1995, tr.280-281.

4. Lịch sử Kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb QĐND, H.2002, tr.323-324.

Bình luận


Họ và tên:*

Đơn vị:     

Điện thoại:*               

Email:*                       

Nội dung: