CNQP&KT - Thời chống Mỹ, những vũ khí, khí tài như tên lửa, pháo phòng không, ra-đa được các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ có một số tính năng kỹ, chiến thuật chưa phù hợp với thực tế tác chiến. Do vậy, công tác cải tiến, nâng cao khả năng chiến đấu được bộ đội ta triển khai tích cực, góp phần đánh bại lực lượng không quân Mỹ.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đặc biệt, trong lĩnh vực quân sự, các nước XHCN đã viện trợ nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) mới, hiện đại cho Quân đội ta. Để có thể khai thác, sử dụng, phát huy tính năng các loại VKTBKT này là nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp, nhất là khí tài tên lửa, ra-đa, pháo phòng không. Bộ đội phòng không nhận thấy có một số tính năng kỹ, chiến thuật chưa phù hợp với thực tế tác chiến trên chiến trường Việt Nam. Do vậy, vấn đề cải tiến vũ khí, trang bị, nâng cao hiệu quả chiến đấu được bộ đội ta triển khai tích cực. Chỉ trong một thời gian ngắn, các cán bộ, kỹ sư đã phát huy trí tuệ, vận dụng sáng tạo, cải tiến được nhiều vũ khí, trang bị phòng không, góp phần đánh bại lực lượng Không quân Mỹ.

Cuối năm 1967, Không quân Mỹ đưa vào sử dụng máy gây nhiễu ALQ-71 trên chiến trường Việt Nam. Đây là loại máy gây nhiễu công suất lớn, có dải tần rộng trùng với tần số tín hiệu của tổ hợp tên lửa phòng không SA-75 Dvina (SAM-2) do Liên Xô viện trợ, làm cho mạch bắt của khí tài bắt vào nhiễu mà không bắt tín hiệu của đạn, dẫn đến đạn tên lửa bị mất điều khiển. Ngày 18/12/1967, Trung đoàn 236 bắn 8 quả tên lửa thì 5 quả mất điều khiển; Trung đoàn 274 bắn 4 quả thì 2 quả rơi xuống đất. Trong đợt chiến đấu tháng 12/1967, đạn tên lửa mất điều khiển rơi xuống đất là 25 quả.


Sửa chữa máy ngắm pháo phòng không phục vụ chiến đấu.    Ảnh: TL

Trước tình hình đó, các cán bộ kỹ thuật của Quân đội ta đã nghiên cứu chống nhiễu rãnh đạn bằng cách kết hợp giữa tăng công suất phát tín hiệu của đạn và dịch chuyển tần số đạn đến vị trí cường độ máy gây nhiễu rãnh đạn. Nhưng để khắc phục triệt để loại nhiễu này, những người lính thợ đã nghiên cứu cải tiến khí tài tổ hợp tên lửa phòng không SAM-2 và đạn tên lửa bằng giải pháp tăng công suất máy phát tín hiệu cho tên lửa để chèn ép cường độ nhiễu từ máy phát nhiễu AQL-71 của địch. Đồng thời, giảm hệ số khuếch đại để chống quá tải cho máy thu khi bắt phải tín hiệu giả của tên lửa, hệ tọa độ chỉ bắt tín hiệu khi đạn bay ra. Đến giữa năm 1968, khí tài tổ hợp tên lửa phòng không SAM-2 được cải tiến thành công đưa vào chiến đấu đã giúp bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam khắc chế hoàn toàn nhiễu rãnh đạn của địch. Thành công này còn đóng vai trò quan trọng trong sự kiện bắn rơi máy bay B-52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội tháng 12/1972. Tướng Annatôli Ivanôvích Khiu Pennen, Trưởng đoàn Chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam những năm 1972-1975, đánh giá: “Trao vũ khí tên lửa cho các bạn Việt Nam là trao nó cho những bộ óc sáng tạo và những đôi bàn tay vàng”.

Tiếp nối thành công cải tiến khí tài tổ hợp tên lửa phòng không SAM-2, các cán bộ, kỹ sư còn có nhiều giải pháp sáng tạo chống nhiễu rãnh mục tiêu cho tên lửa, như: mở rộng dải tần số rãnh mục tiêu từ 3.000 + 80MHZ trước đây lên 3.000 ± 100MHZ, buộc địch phải mở rộng phổ nhiễu bao trùm hết rãnh mục tiêu làm giảm cường độ nhiễu, giúp trắc thủ tên lửa có thể quan sát được tín hiệu mục tiêu trên nền nhiễu; lắp đặt hệ thống quang truyền hình (TIA-00) để quan sát, phát hiện máy bay địch bằng quang học; nghiên cứu thiết kế lắp mạch đồng nhất vào đài điều khiển tên lửa để trắc thủ góc tà và phương vị luôn bám sát vào cùng một dải nhiễu; cải tiến chế độ bắn thấp của đài điều khiển tên lửa nhằm nâng cao quỹ đạo bay của đạn trong giai đoạn đầu, giúp tên lửa không bị va vào mặt đất khi bắn mục tiêu bay thấp; cải tiến chế độ giữ chậm ngòi nổ vô tuyến (K3) để tăng khả năng chống nhiễu cho ngòi nổ vô tuyến; cải tiến thiết bị tự động xác định phần tử phóng (AIIII) để kíp chiến đấu xác định chính xác các phần tử máy bay địch. Đồng thời, các cán bộ, kỹ sư đã chủ động nghiên cứu lắp ghép phần tử mục tiêu từ đài ra-đa của pháo phòng không 57mm lên K-860 để hỗ trợ cho tên lửa SA-75 đánh máy bay B-52. Nhờ có sự hỗ trợ của đài ra-đa K-860 chỉ thị mục tiêu, các đơn vị tên lửa phòng không chiến đấu rất hiệu quả. Trong đó có thể kể đến trận đánh ngày 26/12/1972, bộ đội tên lửa đã bắn hạ 8 máy bay B-52 của địch (4 chiếc rơi tại chỗ) trong Chiến dịch “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” đã làm bất ngờ đối với lực lượng Không quân Mỹ.

Giữa năm 1968, khí tài tổ hợp tên lửa phòng không SAM-2 được cải tiến thành công đưa vào chiến đấu, giúp bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam khắc chế hoàn toàn nhiễu rãnh đạn của địch.

Cùng với quá trình nghiên cứu cải tiến tên lửa, ra-đa, những người lính thợ còn có những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật mang lại hiệu quả chiến đấu cao. Trong 2 năm (1968 -1969), Xưởng sửa chữa pháo A34 đã cải tiến thành công pháo phòng không 37mm bằng xe kéo do nước bạn viện trợ thành pháo mang vác như súng máy phòng không 14,5mm, bằng phương pháp cắt bỏ các bộ phận như giường pháo, càng pháo, bánh xe, rồi lắp ráp với nhau thành khẩu pháo hoàn chỉnh và được đưa ngay vào chiến trường Quảng Trị tham gia đánh máy bay địch. Từ kinh nghiệm cải tiến pháo 37mm thành pháo mang vác và nhu cầu thực tiễn chiến đấu trên chiến trường, đặc biệt, sau Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (năm 1971) rất cần phải có pháo phòng không tự hành trong đội hình binh chủng hợp thành, Xưởng A34 được giao nghiên cứu cải tiến pháo phòng không 37mm hai nòng, pháo 57mm lắp trên xe tăng T-34 và pháo 23mm lắp trên xe bọc thép CAY-76. Sau gần một tháng nghiên cứu, Xưởng A34 đã cải tiến thành công và tiến hành bắn thử đạt kết quả tốt. Nhà máy Z133 và Nhà máy Z153 được giao thi công lắp đặt pháo phòng không 37mm hai nòng, 57mm và pháo 23mm lên xe tăng và xe bọc thép. Đầu tháng 3/1972, hai nhà máy đã hoàn thành việc lắp đặt 24 khẩu mỗi loại. Trong Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, pháo phòng không tự hành đã bắn rơi 25 máy bay địch. Thành công cải tiến lắp đặt pháo phòng không tự hành của Xưởng A34 được Bộ Quốc phòng đánh giá cao và được Nhà nước khen thưởng. Ngoài ra, các cán bộ kỹ thuật còn nghiên cứu cải tiến phần tử máy ngắm (phần tử tay quay) của pháo 37mm điều khiển pháo 100mm để ngắm bắn; cải tiến thước càng cua để xác định tọa độ mục tiêu; đưa pháo 23mm hai nòng và súng máy phòng không 14,5mm lên xe 5TP50-IIK; đưa pháo phòng không 37mm lên xe xích ATC... để phù hợp với điều kiện tác chiến trên chiến trường Việt Nam và đem lại hiệu quả chiến đấu cao.

Có thể nói, trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta nói chung và những người lính thợ nói riêng đã có những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật rất có giá trị, góp phần quan trọng nâng cao hiệu suất, khả năng chiến đấu của các loại VKTBKT phòng không trên chiến trường để cùng với quân dân cả nước đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, mà đỉnh cao là Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”.

Thượng tá, TS. LÊ QÚY THI - TS. NGUYỄN THỊ CHINH

Bình luận


Họ và tên:*

Đơn vị:     

Điện thoại:*               

Email:*                       

Nội dung: